So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam(JBSV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

1Hlơi pô đaŏ kơnang kơ tơlơi Yang Yêsu jing Pô Krist, ñu anŭn tŭ tơkeng rai mơ̆ng Ơi Adai yơh, laih anŭn hlơi pô khăp kơ Yang Ama, ñu anŭn ăt khăp kơ ană bă Ơi Adai mơ̆n.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Ai tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, thì sanh bởi Đức Chúa Trời; và ai yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Ai tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ thì sinh bởi Đức Chúa Trời; ai yêu thương Đấng sinh thành thì cũng yêu thương người được Đấng ấy sinh ra.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Ai tin rằng Ðức Chúa Jesus là Ðấng Christ thì được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời. Ai yêu Ðấng sinh ra Con cũng yêu Con do Ngài sinh ra.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Ai tin rằng Đức Giê-su là Chúa Cứu Thế thì sanh bởi Đức Chúa Trời, và người nào yêu kính Cha thì cũng yêu thương Con nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Ai tin nhận Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế, thì người ấy là con Thượng Đế, và người nào yêu Cha cũng yêu con cái của Cha.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

2Anai yơh jing mơta tơlơi ƀing ta thâo krăn ƀing ta khăp kơ ƀing ană bă Ơi Adai: Anŭn jing tơdang ƀing ta khăp kơ Ơi Adai laih anŭn ngă tui khul tơlơi Ñu pơđar.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Bởi điều nầy, chúng ta biết mình yêu thương con cái Đức Chúa Trời: Đó là chúng ta yêu Đức Chúa Trời và làm theo các điều răn của Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Bởi điều nầy chúng ta biết rằng chúng ta yêu con cái Ðức Chúa Trời: khi chúng ta yêu kính Ðức Chúa Trời và thi hành các điều răn Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Đây là cách chúng ta biết được chúng ta yêu thương con dân Đức Chúa Trời: đó là chúng ta yêu kính Đức Chúa Trời và thi hành điều răn của Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Chúng ta biết mình yêu con cái Thượng Đế khi chúng ta yêu Thượng Đế và vâng theo mệnh lệnh Ngài.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

3Anai yơh jing tơlơi khăp kơ Ơi Adai: Gưt tui khul tơlơi Ñu pơđar, laih anŭn khul tơlơi Ñu pơđar ƀu pơkơtraŏ kơ ƀing ta ôh,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Yêu Đức Chúa Trời tức là chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài; điều răn của Ngài không phải là nặng nề.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Vì yêu kính Ðức Chúa Trời là vâng giữ các điều răn Ngài; và các điều răn Ngài không nặng nề.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Đây là cách yêu thương Đức Chúa Trời: Vâng theo điều răn của Ngài và những điều răn ấy không nặng nề,

Bản Phổ Thông (BPT)

3Yêu Chúa tức là vâng giữ mệnh lệnh Ngài. Mệnh lệnh Ngài không phải quá khó khăn

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

4yuakơ hlơi pô tŭ tơkeng rai mơ̆ng Ơi Adai, ñu anŭn dưi hĭ hăng lŏn tơnah yơh. Anai yơh jing tơlơi dưi hĭ, jing tơlơi ƀing ta hơmâo dưi hĭ laih kơ lŏn tơnah, anŭn jing yua mơ̆ng tơlơi đaŏ kơnang ta yơh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Vì ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì chiến thắng thế gian; điều làm cho chúng ta chiến thắng thế gian chính là đức tin của chúng ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Vì ai được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời đều chiến thắng thế gian, và đây là sự đắc thắng đã chiến thắng thế gian: đức tin của chúng ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

4vì người nào sinh ra từ Đức Chúa Trời chiến thắng được thế gian. Đây là sự chiến thắng đã chiến thắng thế gian, chính là đức tin của chúng ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

4vì người nào là con Thượng Đế đều chiến thắng thế gian. Nguyên nhân giúp chúng ta chiến thắng thế gian là niềm tin trong Ngài.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

5Hlơi jing pô dưi hĭ kơ lŏn tơnah lĕ? Kơnơ̆ng hlơi pô đaŏ kơnang kơ tơlơi Yang Yêsu jing Ană Đah Rơkơi Ơi Adai đôč yơh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hay sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không là người tin rằng Ðức Chúa Jesus là Con Ðức Chúa Trời?

Bản Dịch Mới (NVB)

5Ai đã chiến thắng thế gian? Chỉ những ai tin Đức Giê-su là Con của Đức Chúa Trời.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Thế thì ai chiến thắng thế gian? Đó là những người tin nhận Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

6Anŭn yơh jing Pô rai laih mơ̆ng ia laih anŭn drah, jing Yang Yêsu Krist yơh. Ñu ƀu rai kơnơ̆ng mơ̆ng ia đôč ôh, samơ̆ mơ̆ng ia laih anŭn mơ̆ng drah. Laih anŭn Yang Bơngăt Hiam yơh jing Pô ngă gơ̆ng jơlan, yuakơ Yang Bơngăt Hiam jing tơlơi sĭt.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Ấy chính Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã đến bởi nước và huyết, không phải chỉ bởi nước mà thôi, nhưng bởi nước và huyết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Chính Ngài, Ðức Chúa Jesus Christ, đã đến bằng nước và huyết, không phải chỉ bằng nước, nhưng bằng nước và huyết. Chính Ðức Thánh Linh là Ðấng làm chứng, vì Ðức Thánh Linh là chân lý.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Đây là Đấng đến bởi nước và huyết, Chúa Cứu Thế Giê-su, Ngài không đến chỉ bởi nước mà thôi, nhưng nước và huyết.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng đến bằng nước và huyết. Không phải Ngài đến bằng nước mà thôi nhưng bằng nước và huyết. Thánh Linh làm chứng cho điều ấy vì Thánh Linh là sự thật.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

7Yuakơ hơmâo klâo mơta ngă gơ̆ng jơlan brơi:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng, vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Chính Thánh Linh làm chứng, vì Thánh Linh là chân lý.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Có ba bằng chứng:

Bản Dịch Mới (NVB)

7Và Đức Thánh Linh làm chứng, vì Đức Thánh Linh là chân lý.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Cho nên có ba điều làm chứng:

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

8Yang Bơngăt, ia laih anŭn drah; laih anŭn klâo mơta anŭn pơtŭ ư hrŏm hơbĭt yơh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vì có ba làm chứng: Đức Thánh Linh, nước và huyết; ba ấy hiệp một.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Có ba bằng chứng: Thánh Linh, nước và huyết; cả ba đều hiệp nhất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Ðức Thánh Linh, nước, và huyết; cả ba đều làm chứng về một việc.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Có ba nhân chứng: Đức Thánh linh, nước và huyết; và cả ba đều đồng ý.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Thánh Linh, nước và huyết; cả ba hoàn toàn đồng ý với nhau.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

9Ƀing ta tŭ mă tơlơi mơnuih ngă gơ̆ng jơlan, samơ̆ tơlơi Ơi Adai ngă gơ̆ng jơlan jing prŏng hloh yuakơ anŭn jing tơlơi Ơi Adai ngă gơ̆ng jơlan kơ tơlơi Ană Ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Ví bằng chúng ta nhận chứng của loài người, thì chứng của Đức Chúa Trời trọng hơn; vả, chứng của Đức Chúa Trời, ấy là chứng mà Ngài làm về Con Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Nếu chúng ta nhận lời chứng của loài người, thì lời chứng của Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn; vì đây là lời của Đức Chúa Trời làm chứng về Con Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Nếu chúng ta chấp nhận lời chứng của người phàm, thì lời chứng của Ðức Chúa Trời cao trọng hơn, vì đó là lời chứng của Ðức Chúa Trời, và Ngài làm chứng về Con Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Nếu chúng ta chấp nhận lời chứng của người thì lời chứng của Đức Chúa Trời còn quan trọng hơn; vì đây là lời chứng của Đức Chúa Trời làm chứng cho Con Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nếu chúng ta nhận lời chứng của người thì lời chứng của Thượng Đế còn quan trọng hơn. Lời chứng ấy như sau: Thượng Đế đã làm chứng về chính Con Ngài.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

10Hlơi pô đaŏ kơnang kơ Ană Đah Rơkơi Ơi Adai, ñu anŭn hơmâo tơlơi gơ̆ng jơlan anŭn amăng pran jua ñu. Samơ̆ hlơi pô ƀu đaŏ kơnang kơ Ơi Adai ôh, ñu anŭn pơjing kơ Ơi Adai jing Pô ƀlŏr yơh, yuakơ ñu ƀu đaŏ ôh kơ tơlơi Ơi Adai hơmâo ngă gơ̆ng jơlan laih kơ Ană Đah Rơkơi Ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Ai tin đến Con Đức Chúa Trời, thì có chứng ấy trong mình; còn ai không tin Đức Chúa Trời, thì cho Ngài là nói dối, vì chẳng tin đến chứng Đức Chúa Trời đã làm về Con Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng ấy trong chính mình. Còn ai không tin Đức Chúa Trời thì cho Ngài là người nói dối, vì không tin lời mà Đức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Ai tin Con Ðức Chúa Trời thì có bằng chứng đó trong lòng; ai không tin Ðức Chúa Trời thì mặc nhiên cho Ngài là kẻ nói dối, vì đã không tin lời chứng của Ðức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng này trong lòng. Ai không tin Đức Chúa Trời thì khiến Ngài thành kẻ nói dối, vì không tin lời chứng của Đức Chúa Trời về Con Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Ai tin nơi Con Thượng Đế cũng có lời chứng ấy trong mình. Ai không tin Thượng Đế thì cho Ngài là kẻ nói dối vì gạt bỏ lời chứng của Thượng Đế về Con Ngài.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

11Laih anŭn anai yơh jing tơlơi ngă gơ̆ng jơlan: Ơi Adai hơmâo brơi laih kơ ƀing ta tơlơi hơdip hlŏng lar, laih anŭn tơlơi hơdip anŭn dŏ amăng Ană Đah Rơkơi Ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Đây là lời chứng: Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống nầy ở trong Con Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Ðây là lời chứng: Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống ấy ở trong Con Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Và đây là lời chứng đó: Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự sống vĩnh phúc và sự sống này ở trong Con Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Đây là lời chứng ấy: Thượng Đế đã cho chúng ta sự sống đời đời, sự sống ấy ở trong Con Ngài.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

12Hlơi pô hơmâo Yang Ană, ñu anŭn hơmâo tơlơi hơdip anŭn; hlơi pô ƀu hơmâo Yang Ană Ơi Adai ôh, ñu anŭn ƀu hơmâo tơlơi hơdip anŭn ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Ai có Ðức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Ðức Chúa Trời thì không có sự sống.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Ai có Đức Chúa Con có sự sống; ai không có Con của Đức Chúa Trời thì không có sự sống.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Ai có Con thì có sự sống, còn ai không có Con Thượng Đế sẽ không có sự sống.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

13Kâo čih khul tơlơi anai kơ ƀing gih jing ƀing đaŏ kơnang kơ anăn Ană Đah Rơkơi Ơi Adai, tui anŭn kiăng kơ ƀing gih dưi thâo krăn ƀing gih hơmâo tơlơi hơdip hlŏng lar.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Tôi viết điều nầy cho anh em, là những người đã tin đến danh Con Đức Chúa Trời, để anh em biết mình có sự sống đời đời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Tôi viết những điều nầy cho anh chị em, những người tin vào danh Con Ðức Chúa Trời, để anh chị em biết rằng anh chị em có sự sống đời đời.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Tôi viết những điều này cho anh chị em là những người tin danh Con của Đức Chúa Trời để anh chị em biết anh chị em có sự sống vĩnh phúc.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Ta viết thư nầy cho các con là những người tin nơi Con Thượng Đế để các con biết mình đã nhận được sự sống đời đời.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

14Laih anŭn anai yơh jing tơlơi kơjăp pran jua ƀing ta hơmâo amăng tơlơi rai jĕ pơ Ơi Adai: Tơdah ƀing ta rơkâo kơ Ñu hơget mơta tơlơi tui hăng Ñu kiăng, Ñu hơmư̆ ƀing ta yơh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Đây là sự vững tâm mà chúng ta có được trước mặt Ngài: Ấy là nếu chúng ta cầu xin điều gì theo ý muốn Ngài thì Ngài nghe chúng ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Ðây là sự vững tâm chúng ta có trước thánh nhan Ngài: nếu chúng ta theo ý muốn Ngài cầu xin điều chi, Ngài nghe chúng ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Đây là sự bảo đảm chúng ta có để đến gần Đức Chúa Trời: Ấy là nếu chúng ta xin bất cứ điều gì theo ý muốn Ngài thì Ngài sẽ nghe chúng ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Chúng ta có được sự bạo dạn khi đến với Thượng Đế: Điều gì chúng ta cầu xin theo ý Ngài thì Ngài nghe chúng ta.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

15Laih anŭn tơdang ƀing ta thâo laih Ñu hơmư̆ ƀing ta kơ mơta tơlơi ƀing ta rơkâo, ƀing ta thâo ƀing ta hơmâo hơdôm tơlơi ƀing ta rơkâo laih kơ Ñu anŭn yơh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Và nếu chúng ta biết Ngài nghe bất cứ điều gì chúng ta cầu xin thì chúng ta biết là mình đã nhận được điều cầu xin rồi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Nếu chúng ta biết rằng Ngài nghe chúng ta, bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, chúng ta biết rằng chúng ta có những gì chúng ta đã cầu xin Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Và nếu chúng ta biết Đức Chúa Trời nghe chúng ta, bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta biết rằng chúng ta có được điều chúng ta đã xin Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Chúng ta biết Ngài nghe chúng ta mỗi khi chúng ta cầu xin thì chúng ta chắc chắn nhận được điều mình cầu xin Ngài.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

16Tơdah hlơi pô ƀuh ayŏng adơi ñu ngă soh samơ̆ ƀu ba truh kơ tơlơi djai ôh, ñu anŭn khŏm iâu laĭ laih anŭn Ơi Adai či brơi kơ gơ̆ tơlơi hơdip yơh. Kâo kiăng laĭ kơ ƀing hlơi pô tơlơi soh gơñu ƀu ba gơñu nao kơ tơlơi djai ôh. Hơmâo mơ̆n tơlơi soh ba nao kơ tơlơi djai. Kâo ƀu pơhiăp kơ tơlơi ñu khŏm iâu laĭ kơ tơlơi soh kar hăng anŭn ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Ví có kẻ thấy anh em mình phạm tội, mà tội không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho, tức là ban cho những kẻ phạm tội mà chưa đến nỗi chết. Cũng có tội đến nỗi chết; ấy chẳng phải vì tội đó mà ta nói nên cầu xin.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Nếu ai thấy anh em mình phạm tội, mà tội ấy không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho người ấy, tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Cũng có tội dẫn đến sự chết; tôi không bảo anh em phải cầu xin cho tội nầy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Nếu ai thấy anh chị em mình phạm một tội không đến nỗi chết, người ấy hãy cầu xin, Ngài sẽ ban cho người ấy được sống, tức là ban cho người phạm tội không đến nỗi chết. Có một tội đưa đến cái chết, và tôi không bảo anh chị em cầu xin cho điều đó.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Nếu có ai thấy anh chị em mình phạm một tội không đưa đến sự chết, thì người ấy cầu nguyện và Đức Chúa Trời sẽ ban cho người sự sống. Tôi nói đến những người mà tội không đưa đến sự chết, cũng có tội đưa đến sự chết. Tôi không nói anh chị em phải cầu nguyện về tội đó.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Nếu ai thấy anh chị em mình phạm tội, loại tội chưa đưa đến cái chết, người ấy nên cầu nguyện cho anh em mình để Thượng Đế ban sự sống cho người có tội ấy. Ta muốn nói đến tội chưa dẫn tới cái chết. Có tội dẫn đến cái chết. Ta không bảo chúng ta nên cầu nguyện cho loại tội lỗi ấy.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

17Abih bang bruă ngă ƀu djơ̆, jing soh yơh, laih anŭn hơmâo mơ̆n tơlơi soh ƀu ba nao kơ tơlơi djai ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Mọi sự không công bình đều là tội; mà cũng có tội không đến nỗi chết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Mọi điều không công chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Mọi sự bất chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Mọi sự bất chính đều là tội, nhưng có loại tội không dẫn đến sự chết.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Làm quấy bao giờ cũng là tội lỗi nhưng có loại tội không đưa đến cái chết.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

18Ƀing ta thâo hlơi pô tŭ tơkeng rai mơ̆ng Ơi Adai, ñu anŭn ƀu tŏ tui dŏ amăng tơlơi ngă soh ôh. Hlơi pô tŭ tơkeng rai mơ̆ng Ơi Adai, jing Pô răk wai ñu anŭn rơnŭk hơđơ̆ng yơh, laih anŭn pô sat ƀai ƀu dưi ngă sat kơ ñu anŭn ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì hẳn chẳng phạm tội; nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại người được.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Chúng ta biết rằng ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm tội, vì Đấng sinh bởi Đức Chúa Trời gìn giữ người ấy, và ma quỷ không đụng đến người ấy được.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Chúng ta biết rằng không ai được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời lại cứ phạm tội, nhưng được Ðấng sinh ra bởi Ðức Chúa Trời bảo vệ, và Kẻ Ác không đụng đến người ấy được.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Chúng ta biết rằng ai sanh ra bởi Đức Chúa Trời thì không tiếp tục phạm tội; người sanh ra bởi Đức Chúa Trời giữ mình an toàn và ma quỷ không đụng đến người được.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Chúng ta biết ai làm con cái Thượng Đế không thể cứ mãi phạm tội. Con Thượng Đế giữ người ấy an toàn, Kẻ Ác không thể đụng tới họ được.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

19Ƀing ta thâo ƀing ta jing ană bă Ơi Adai, laih anŭn pô sat ƀai hlak dŏ git gai abih bang lŏn tơnah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều ở dưới quyền ma quỷ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Ðức Chúa Trời, còn cả thế gian nằm dưới quyền lực của Kẻ Ác.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Chúng ta biết chúng ta là con dân của Đức Chúa Trời và cả thế gian đều nằm trong sự kiểm soát của ma quỷ.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Chúng ta biết mình thuộc về Thượng Đế mặc dù thế gian quanh chúng ta ở dưới quyền Kẻ Ác.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

20Laih anŭn ƀing ta ăt thâo mơ̆n kơ tơlơi Ană Đah Rơkơi Ơi Adai hơmâo rai hăng brơi laih kơ ƀing ta tơlơi thâo hluh, tui anŭn ƀing ta dưi thâo krăn Ñu jing sĭt. Laih anŭn ƀing ta dŏ amăng Ñu jing Pô sĭt, anŭn jing amăng Ană Đah Rơkơi Ñu, jing Yang Yêsu Krist yơh. Laih anŭn Ñu jing Ơi Adai sĭt laih anŭn tơlơi hơdip hlŏng lar.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Nhưng chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến, Ngài đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chân thật, và chúng ta ở trong Đấng chân thật, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Ngài. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến và ban sự hiểu biết cho chúng ta để chúng ta biết Ngài là Đấng chân thật; chúng ta ở trong Đấng chân thật, tức là ở trong Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Chúng ta cũng biết rằng Con Ðức Chúa Trời đã đến và đã ban cho chúng ta tri thức, để chúng ta có thể biết Ðấng Chân Thật, và chúng ta ở trong Ngài, là Ðấng Chân Thật, vì chúng ta ở trong Con Ngài, Ðức Chúa Jesus Christ. Chính Ngài là Ðức Chúa Trời Chân Thật và sự sống đời đời.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Chúng ta cũng biết Con của Đức Chúa Trời đã đến và đã ban cho chúng ta sự hiểu biết để chúng ta biết Ngài là chân thật. Và chúng ta ở trong Ngài, Đấng chân thật, tức là ở trong Con Ngài, Chúa Cứu Thế Giê-su. Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và sự sống vĩnh phúc.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Chúng ta cũng biết Con Thượng Đế đến ban cho chúng ta trí hiểu để chúng ta biết Đấng Chân Thật. Chúng ta ở trong Đấng Chân Thật qua Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là Thượng Đế thật và là nguồn gốc của sự sống đời đời.

Hơdrôm Hră Rơgoh Hiam (JBSV)

21Ơ ƀing ană bă khăp hơi, răng bĕ gih pô mơ̆ng khul rup trah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Các con bé nhỏ ơi, hãy giữ mình khỏi hình tượng!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Hỡi các con thơ, hãy giữ mình khỏi các thần tượng.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Các con thân mến! Hãy giữ mình khỏi hình tượng.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Cho nên, các con yêu dấu của ta ơi, hãy tránh xa các thần.