So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HMOWSV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

1Lub nroog uas txeev muaj neegnyob puv nkaus,nyob do cuas lawm lauj!Lub nroog uas txeev ua lojhauv ib tsoom tebchaws,zoo yam nkaus tus poj ntsuam lawm lauj!Lub nroog uas txeev ua poj vaj hauv tej moos,cia li ua luag qhev lawm lauj!

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Thành nầy xưa vốn đông dân lắm, kìa nay ngồi một mình! Xưa vốn làm lớn giữa các dân, nay như đàn bà góa! Xưa vốn làm nữ chủ các quận, nay phải nộp thuế khóa!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Ôi! Xưa là thành đông đúc,Nay ngồi quạnh quẽ một mình!Xưa đầy quyền thế giữa các dân,Nay như một góa phụ!Xưa là nữ chúa giữa các tỉnh,Nay là kẻ lao dịch khổ sai!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Kìa thành phố một thời đông người nhộn nhịp,Nay thưa người đơn chiếc đìu hiu!Kìa nàng vốn là đại đô của các nước,Giờ trở thành góa phụ cô đơn!Kìa nàng vốn là nữ hoàng giữa các tiểu quốc,Nay biến thành nữ nô lệ phục tùng!

Bản Dịch Mới (NVB)

1Ôi, nàng ngồi cô đơn, Dù xưa là thành đông đúc dân cư! Nay là một quả phụ, Xưa đầy quyền thế giữa các dân! Xưa là nữ vương thống trị các thành, Nay nô lệ, phải lao công cưỡng bách!

Bản Phổ Thông (BPT)

1Giê-ru-sa-lem trước đây đông đảo dân cư,nhưng nay trở thành hoang vắng.Giê-ru-sa-lem xưa kia là một trong những thành phố lớn trên thế giới,nhưng nay nó chẳng khác nào đàn bà góa.Xưa kia nó là công chúa của các thành phố,nhưng nay nó chỉ là tôi mọi.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

2Nws quaj ncia dhuj dhev ib hmos,kua muag ntws lug nws lub plhu,txhua tus uas nyiam nwstsis muaj ib tug nplij nws siab li.Nws tej phoojywg txhua tus fav xeeb rau nws,lawv ua yeeb ncuab rau nws lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Nó khóc nức nở ban đêm, nước mắt tràn đôi má. Mọi kẻ yêu mến nó, chẳng ai yên ủi nó. Bạn bè nó phản nó, đều trở nên nghịch thù.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Nàng khóc nức nở suốt đêm,Nước mắt tràn đôi má.Bao người yêu thuở trước,Không ai an ủi nàng.Bạn bè phản bội nàng,Trở thành bọn nghịch thù.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Giữa đêm khuya nàng khóc than cay đắng,Lệ tuôn tràn trên đôi má gầy gò;Trong số tất cả tình nhân của nàng, không một người an ủi nàng;Tất cả các bạn nàng đã phụ rẫy nàng,Thậm chí chúng còn trở thành những kẻ thù của nàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Nàng khóc thảm thiết thâu đêm, Lệ đầm đìa đôi má. Những kẻ xưa kia yêu mến nàng, Nay không ai đến bên nàng với lời an ủi. Bạn bè thảy đều phản bội, Chúng trở thành những kẻ nghịch thù.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Ban đêm nó khóc than,nước mắt chảy đầm đìa xuống má.Chẳng ai an ủi nó;các người yêu nó không còn.Bạn bè đều phản nótrở thành thù nghịch nó.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

3Yuda raug kuav mus poob tebchaws,thiab raug kev tsim txomthiab raug quab yuam ua qhev,nws nyob rau luag teb luag chaw,nws tsis tau chaw nyob tus li,txhua tus uas caum nws caum cuag nwsrau thaum nws tau chaw ti.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Giu-đa đi làm phu tù, vì chịu nạn cùng chịu sai dịch nặng nề. Ở đậu giữa các dân, chẳng được chút nghỉ ngơi. Những kẻ bắt bớ đuổi theo nó, theo kịp nó nơi eo hẹp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Giu-đa bị lưu đày khốn khổ,Chịu nô dịch nặng nề.Sống nhờ giữa các dân,Không tìm được nơi an nghỉ.Những kẻ truy đuổi đã bắt được nàng,Khi nàng lâm vào bước đường cùng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Giu-đa đã bị lưu đày,Nàng phải chịu biết bao đau đớn và phải làm lao động khổ sai;Bây giờ nàng phải sống rải rác giữa các nước và chẳng tìm được một nơi an nghỉ;Tất cả kẻ truy đuổi nàng đều bắt kịp nàng trong lúc nàng cùng đường tuyệt vọng.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Giu-đa đi lưu đầy, Lắm nỗi thống khổ nhục nhằn. Nàng ngồi than khóc giữa các dân, Không nơi an nghỉ. Mọi kẻ săn đuổi nàng, Bắt được nàng khi nàng cùng đường túng quẫn.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Giu-đa đã bị bắt làm tù binh,nơi nó đang chịu lao khổ.Nó sống giữa các dân khác,nhưng không tìm được sự an nghỉ.Những kẻ đuổi theo đã bắt được nóđang khi nó gặp khốn đốn.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

4Tej kev uas mus rau hauv Xi‑oo kuj quaj ntsuagvim tsis muaj leejtwg taug kev tuaj musua kevcai noj haus raws tej sijhawm lawm.Nws tej rooj loog huvsitsis muaj neeg hla li lawm,nws cov pov thawj quaj nroo luj laws.Nws tej ntxhais hluas kuj lwj siab ntsuav,thiab nws kuj lwj siab kawg li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Các đường lối Si-ôn đương thảm sầu, vì chẳng ai đến dự kỳ lễ trọng thể nữa. Mọi cửa thành hoang vu; các thầy tế lễ thở than; Các gái đồng trinh nó bị khốn nạn, chính nó phải chịu cay đắng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Đường phố Si-ôn tang tócVì không còn ai đến trong ngày lễ hội.Mọi cửa thành hoang vu,Các thầy tế lễ thở than;Các trinh nữ khổ đau,Thân phận nàng chìm trong cay đắng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Những con đường dẫn đến Si-ôn âu sầu ảm đạm,Vì không ai đến dự các đại lễ như trước kia;Tất cả các cổng thành đều đìu hiu quạnh quẽ,Các tư tế đều rầu rĩ thở than,Các thiếu nữ của nàng buồn da diết,Số phận của nàng thật đau khổ đắng cay.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Đường dẫn đến Si-ôn tang tóc, Vì không người đến trong ngày lễ hội. Mọi cổng thành vắng vẻ hoang vu, Các thầy tế lễ thở than. Các cô gái đồng trinh bị bắt đi nức nở, Thân phận nàng, cay đắng xót xa.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Đường sá dẫn đến Giê-ru-sa-lem rất quạnh hiu,vì không còn ai đến để dự lễ của nó.Chẳng thấy bóng ai qua lại các cổng nó.Các thầy tế lễ nó than vãn,Các gái tơ của nó đã bị bắt đi,khiến Giê-ru-sa-lem vô cùng sầu não.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

5Nws cov tshawj chim tau ua thawj,nws cov yeeb ncuab tau noj qab nyob zoo,twb yog Yawmsaub ua rau nwsraug kev txom nyemvim yog nws txojkev fav xeeb loj heev,nws tej tub ki thiaj raug tshawj chim ntescoj mus poob tebchaws.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Kẻ đối địch nó trở nên đầu, kẻ thù nghịch nó được thạnh vượng; Vì Đức Giê-hô-va làm khốn khổ nó, bởi cớ tội lỗi nó nhiều lắm. Con nhỏ nó bị kẻ nghịch bắt điệu đi làm phu tù.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Đối thủ nàng trở thành kẻ thống trị,Kẻ thù nàng được thịnh vượng,Vì Đức Giê-hô-va làm cho nàng khốn khổBởi tội lỗi nàng nhiều quá.Con cái nàng bị bắt,Đưa đi lưu đày trước mặt kẻ thù.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Những kẻ thù ghét nàng đã trở thành các chủ nhân của nàng,Những kẻ thù của nàng đã thành công;Vì vô số tội lỗi của nàng,CHÚA đã bắt nàng phải chịu nhiều đau khổ;Các con cái nàng phải sống ở phương xa, vì chúng đã bị quân thù bắt đem lưu đày biệt xứ.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Kẻ thù nàng hôm nay làm chủ, Đối thủ nàng phè phỡn, sướng vui. CHÚA đã đầy đọa nàng, Vì cớ nàng gây nhiều tội ác. Con cái nàng đi khuất, Làm tù binh lê bước trước kẻ thù.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Kẻ thù nó nay là chủ nhân ông nó.Chúng hưởng thụ những của cải cướp được.CHÚA đang trừng phạt nó vì tội nó.Con cái nó đã bị đày đi làm tù binh cho quân thù.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

6Xi‑oo tus ntxhais lub meej momuas nrov nto moo lug twb poob tag lawm.Nws cov thawj zoo yam nkaus tej txiv muas lwjuas nrhiav tsis tau tshav zaub noj,thiab khiav qaug zog zisntawm tus uas caum hauv ntej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Con gái Si-ôn đã mất hết mọi sự làm cho mình vinh hoa. Các quan trưởng nó như nai chẳng tìm được đồng cỏ, Chạy trốn kiệt cả sức trước mặt kẻ đuổi theo.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Ánh hào quang của con gái Si-ônĐã biến mất.Các thủ lĩnh nàng như đàn naiKhông tìm ra đồng cỏ;Không còn sức chạy trốnTrước những kẻ săn đuổi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Ái Nữ của Si-ôn đã hết thời,Vẻ cao sang quyền quý của nàng không còn nữa;Những kẻ cầm quyền của nàng giống những nai đói không tìm ra đồng cỏ;Họ bạc nhược bỏ chạy cứu mạng trước sự truy kích của quân thù.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Sự vinh hiển của Thiếu Nữ Si-ôn thảy đều tan biến. Các vua chúa nàng khác nào đàn nai Không tìm ra đồng cỏ. Họ đuối sức lê chân Phải bước đi trước kẻ thù thúc đuổi.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Vẻ đẹp của Giê-ru-sa-lem đã tan biến rồi.Các quan cai trị nó như nai tìm không ra cỏ.Chúng yếu ớt, không thể chạy thoát khỏi kẻ săn đuổi chúng.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

7Niaj hnub nimno uas Yeluxalees poobrau hauv kev txom nyem lwj siabthiab khiav mus rau tom ub tom no,nws kuj rov nco txog txhua yam tsim txiajuas nws txeev muaj thaum ub.Thaum nws cov pejxeem poobrau hauv tshawj chim txhais tes,mas tsis muaj leejtwg yuav pab nws li,cov tshawj chim pom nwsthiab luag qhov uas nws piam tag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Giê-ru-sa-lem, đương ngày khốn khổ lưu ly, nhớ xưa trải mọi mùi vui thích; Khi dân nó sa vào tay kẻ nghịch, chẳng ai đến cứu cùng. Quân thù xem thấy nó, chê cười nó hoang vu!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Trong những ngày khốn khổ lang thang,Giê-ru-sa-lem nhớ lại những báu vậtMà xưa kia mình thừa hưởng.Khi dân nàng rơi vào tay kẻ thù,Chẳng một ai tiếp cứu,Quân thù nhìn nàng chế nhạoCảnh hoang vu của nàng!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Giữa những ngày nàng đau khổ và lang thang,Giê-ru-sa-lem nhớ lại mọi phước hạnh nàng đã từng được hưởng ngày xưa.Khi dân của nàng sa vào tay quân thù, chẳng có ai đến tiếp cứu nàng;Thấy tình cảnh nàng cô đơn như thế, quân thù của nàng đã cười hể hả trước sự sụp đổ của nàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Trong ngày lưu đày khốn khổ, nhục nhằn, Giê-ru-sa-lem nhớ lại mọi kho tàng quý báu, Từ thuở xa xưa. Khi dân nàng rơi vào tay quân địch, Không ai giúp đỡ nàng. Kẻ thù nhìn nàng, ngạo nghễ, Chúng cười nàng sụp đổ tan tành.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Giê-ru-sa-lem chịu khốn khổ và không nhà cửa.Nó nhớ lại thời vàng son trước kia.Nay dân cư nó đã bị kẻ thù đánh bại,không ai cứu giúp nó.Khi kẻ thù nhìn thấy nó,liền nhạo cười vì nó điêu tàn rồi.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

8Yeluxalees tau ua txhaum muaj txim loj heevnws thiaj qias tsis huv,sawvdaws uas txeev muab koob meej rau nwskuj saib tsis taus nws lawmvim lawv pom qhov uas nws nyob liab qab.Nws mas yeej ntsaj laws,thiab fee plhu rau ib qho.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Giê-ru-sa-lem phạm tội trọng, bởi đó trở nên sự ô uế. Mọi kẻ tôn kính đều khinh dể, vì thấy nó trần truồng. Nó tự mình thở than, trở lui.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Giê-ru-sa-lem phạm tội nặng nề,Vì vậy, đã trở nên ô uế;Mọi kẻ từng tôn kính nàng nay khinh dể cười chê,Vì chúng thấy nàng trơ trụi.Chính nàng cũng thở thanVà ngoảnh mặt đi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Giê-ru-sa-lem đã phạm quá nhiều tội lỗi,Nên nàng đã thành một cớ cười chê;Tất cả những ai đã từng kính nể nàng giờ đều khinh bỉ nàng,Vì chúng đã thấy nàng bị lõa lồ trần trụi.Phải, chính nàng cũng rên rỉ thở than,Và quay mặt đi để khỏi bị ai nhìn thấy.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Giê-ru-sa-lem đã phạm tội trọng, Nên nàng phải trở thành một thứ trò cười. Mọi kẻ xưa kính trọng nàng, nay khinh dể cười chê, Vì chúng nhìn thấy nàng mình trần thân trụi. Chính nàng cũng rên rỉ, Và che mặt quay đi.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Giê-ru-sa-lem phạm tội quá lắm,nó không còn tinh sạch nữa.Những kẻ trước kia tôn trọng nó nay trở lại ghét bỏ nó,vì họ đã nhìn thấy sự trần truồng của nó.Nó than van và quay mặt đi.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

9Nws tej uas qias tsis huvkuj lo rau ntawm nws daim tiab,nws tsis xav txog nws lub hauv ntej li.Vim li no nws thiaj li piam tagtxaus ntshai kawg li,yeej tsis muaj leejtwg nplij tau nws lub siab.“Au Yawmsaub, thov tsa qhov muag saibkuv txojkev txom nyem lwj siab,vim cov yeeb ncuab kov yeej lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Váy nó dơ bẩn; nó chẳng nghĩ sự cuối cùng mình! Sự sa sút nó khác thường, chẳng ai yên ủi nó!… Hỡi Đức Giê-hô-va, xin xem sự khốn nạn tôi, vì kẻ thù đã tự tôn mình làm lớn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Vết bẩn còn trên váy nàng;Nàng chẳng nghĩ đến tương lai;Nàng đã sa sút khác thườngMà chẳng ai an ủi!“Lạy Đức Giê-hô-va, xin đoái xem nỗi ưu phiền của con,Vì kẻ thù đã huênh hoang tự đắc!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Vết ô uế vẫn còn dính đầy trên váy nàng,Khi phạm tội nàng không nghĩ đến hậu quả về sau;Vì thế nàng đã bị sụp đổ thật khiếp đảm;Không ai an ủi nàng nửa lời.“Lạy CHÚA, xin đoái xem nỗi đau khổ của con,Vì quân thù của con đã thắng hơn con.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Váy nàng nhơ nhớp, Vì nàng chẳng hề nghĩ đến tương lai, Cho nên nàng đã rơi xuống thấp, thấp tận cùng đất đen; Nay không ai an ủi nàng. “Lạy CHÚA, xin đoái xem chúng con đau thương khốn khổ, Vì quân thù đắc thắng vênh vang!”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nó tự làm dơ bẩn vì tội lỗi mìnhvà không biết số phận mình ra sao.Sự sụp đổ của nó thật đáng ngạc nhiên,không ai an ủi nó.Nó than, “CHÚA ôi, tôi đang đau khổ!Kẻ thù tôi đang thắng thế.”

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

10Nws tej yeeb ncuab xyab tes hlo txeebnws tej qhov txhia chaw tsim txiaj huvsi.Nws pom ib tsoom tebchaws txeem losrau hauv qhov chaw uas pe Vajtswv,yog cov neeg uas koj txwv tsis pub losnrog koj cov neeg tuaj txoos ua ke.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Kẻ thù đã giơ tay trên mọi vật tốt nó; Vì nó đã thấy các dân ngoại xông vào nơi thánh nó. Về dân ngoại ấy Ngài có truyền: chẳng được vào hội Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Kẻ thù đã dang tayCướp sạch mọi thứ quý giá của nàng;Chính nàng nhìn thấy các dân ngoạiXông vào đền thánh,Chúng là kẻ mà Ngài đã cấmKhông được vào hội của Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Quân thù đã đưa tay hốt sạch tất cả của cải có giá trị của nàng;Chính mắt nàng đã nhìn thấy cảnh các dân ngoại nghênh ngang đi vào đền thánh,Ðó là những kẻ mà Ngài đã cấm không được phép vào nơi hội họp của dân Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Kẻ thù đã giang tay cướp đoạt, Lấy hết mọi báu vật kho tàng. Nàng cũng nhìn thấy quân ngoại xâm Lấn vào đền thánh. Dù chính Ngài đã cấm chúng Không được vào nơi công hội của Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Kẻ thù cướp lấy hết các của báu nó.Thậm chí nó nhìn thấy người ngoại quốcbước vào đền thờ mình.CHÚA đã cấm người ngoại quốckhông bao giờ được bước chân vào nơi họp của dân Ngài.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

11Nws cov pejxeem sawvdaws ntsaj lawsrau thaum mus nrhiav mov noj,lawv muab lawv tej qhov txhia chaw tsim txiajrho mus pauv mov nojkom thiaj li rov muaj zog.“Au Yawmsaub, thov tsa muag saib kuv,rau qhov kuv raug luag saib tsis taus heev.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Cả dân nó vừa đi xin bánh, vừa thở than; Đổi hết sự vui lấy thức ăn, để tươi tỉnh linh hồn mình. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin đoái xem, vì tôi đã nên khinh hèn!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Cả dân nàng vừa đi xin bánhVừa thở than;Đổi cả kho tàng để có thức ănĐể làm tươi tỉnh linh hồn mình.“Lạy Đức Giê-hô-va xin đoái xem,Vì con tủi nhục biết chừng nào!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Toàn dân của nàng than thở khi tìm kiếm thực phẩm để đỡ lòng;Họ đánh đổi của báu để lấy thức ăn đạm bạc, hầu mong được phục hồi sức lực.“Ôi lạy CHÚA, xin đoái xem,Con đã bị khinh bỉ biết bao!”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Toàn dân nàng rên xiết Đi tìm bánh nuôi thân. Họ mang cả báu vật đổi lấy thức ăn, Hầu mạng mình được sống. “Lạy CHÚA, xin đoái xem, Chúng con bị khinh chê, tủi hổ dường nào!”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Tất cả dân cư Giê-ru-sa-lem than van, tìm kiếm thức ăn.Họ lấy những vật quí của mìnhđổi chác thức ăn để sống còn.Thành phố ấy nói, “Lạy CHÚA, xin hãy nhìn.Người ta ghét tôi.”

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

12“Nej txhua tus uas dua kev,nej txawm tsis xav txog tej xwm txheejuas kuv raug no li lov?Saib maj, puas muaj txojkevtxom nyem lwj siab twg uas thooj litxojkev txom nyem lwj siab uas kuv raug no,yog tej kev txom nyemuas Yawmsaub ua rau kuvrau hnub uas nws chim heev kawg li?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Hỡi mọi người đi qua, há chẳng lấy làm quan hệ sao? Xét xem có sự buồn bực nào đọ được sự buồn bực đã làm cho ta, Mà Đức Giê-hô-va đã làm khốn cho ta nơi ngày Ngài nổi giận phừng phừng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12“Hỡi những tất cả những ai đi qua đây! Các người không quan tâm gì sao?Hãy đến và xem!Có nỗi buồn nào sánh đượcVới nỗi buồn mà Đức Giê-hô-va đã giáng trên tôi,Mà Ngài trừng phạt tôiTrong ngày Ngài nổi giận phừng phừng chăng?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Hỡi tất cả những ai qua lại, sự kiện nầy không có ý nghĩa gì với quý vị sao?Hãy nhìn xem,Có nỗi khổ nào sánh được với nỗi khổ của tôi,Tức điều đã xảy ra cho tôi,Mà CHÚA đã giáng trên tôi,Trong ngày Ngài bừng bừng nổi giận với tôi chăng?

Bản Dịch Mới (NVB)

12“Này những kẻ qua đường, Hãy đến đây, nhìn kỹ mà xem, Có nỗi khổ nào bằng nỗi khổ, Tôi đang gánh chịu bởi CHÚA, Trong ngày Ngài giận dữ, Ngài đã giáng trên tôi?

Bản Phổ Thông (BPT)

12Giê-ru-sa-lem nói, “Các ngươi là kẻ qua lại trên đườngmà không thèm để ý.Hãy đến nhìn tôi đây:Có ai chịu khốn khổ như tôi không?Có ai phải gánh chịu sự đau khổ mà Ngài đặt trên tôi không?Trong ngày thịnh nộ lớn của CHÚA,Ngài đã trừng phạt tôi.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

13Nws tso nplaim taws poob saum ntuj los,txeem mus rau hauv kuv tej pob txha,nws ua rooj hlua cuab kuv kotaw,nws ua rau kuv tig kiag rov qab,nws tso kuv tseg nyob do cuas,thiab ua rau kuv qaug zog tagib hnub tsaus ntuj.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Ngài đã giáng lửa từ trên cao, vào xương cốt ta và thắng được. Ngài đã giăng lưới dưới chân ta, làm cho ta thối lui. Ngài đã làm cho ta nên đơn chiếc, hằng ngày bị hao mòn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Từ trên cao Ngài đã giáng lửa xuốngThiêu đốt xương cốt tôi.Ngài đã giăng lưới dưới chân tôi,Làm cho tôi thối lui.Ngài bỏ tôi cô quạnh,Mòn mỏi suốt cả ngày.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Từ trời cao Ngài phóng lửa hừng vụt xuống, khiến lửa đốt thấu vào xương cốt tôi;Ngài giăng lưới để chân tôi vướng mắc, và bắt tôi phải quay trở lại;Ngài để tôi sống quạnh hiu với đớn đau bịnh tật suốt ngày.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Từ trên cao Ngài cho lửa trời giáng xuống, Giáng sâu vào đến xương cốt của tôi. Dưới chân tôi, Ngài cho bủa lưới, Khiến tôi quay ngược lại đằng sau. Ngài bỏ tôi một mình, cô quạnh, Suốt cả ngày, đau đớn hao mòn.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Ngài sai lửa từ trời xuống,thiêu đốt xương cốt tôi.Ngài giăng lưới dưới chân tôikhiến tôi quay trở về.CHÚA khiến tôi buồn thảm và cô đơnđến nỗi tôi kiệt lực suốt ngày.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

14Kuv tej kev fav xeeb huvsinws muab pav ua ib tug quab,nws txhais tes muab pav ua ib kethiab muab tso rau ntawm kuv caj qwb.Nws ua rau kuv lub zog ntaug lawm,tus Tswv muab kuv cob rau hauvcov uas kuv kov tsis yeej txhais tes.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Ách của tội lỗi ta Ngài buộc tay vào, Cả bó chất nặng cổ ta, Ngài đã bẻ gãy sức mạnh ta. Chúa đã phó ta trong tay chúng nó, mà ta không chống cự được!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Tội lỗi tôi bị buộc vào cái áchChính tay Ngài buộc chúng lại với nhau.Nó đè nặng trên cổ tôi,Bào mòn sức lực tôi.Chúa đã phó tôi vào tay chúng,Là những kẻ mà tôi không chống cự nổi!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Ngài buộc những vi phạm của tôi vào một cái ách,Ngài dùng tay Ngài cột chặt chúng lại với nhau, và đặt chúng đè nặng trên cổ tôi,Khiến sức lực tôi tiêu hao cạn kiệt;Chúa đã trao tôi vào tay những kẻ tôi không thể nào ngóc đầu lên chống cự nổi.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Ngài theo dõi lỗi lầm tôi vấp phạm,Bàn tay Ngài buộc chặt tội ác tôi; Tội lỗi tôi thành gông cùm đeo cổ, Ngài khiến sức tôi ngày một mỏi mòn. Chúa phó tôi vào tay quân cường bạo, Quân thù nghịch, tôi không thể đối đầu.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Ngài biết các tội lỗi tôi;tay Ngài bó chúng lại;chúng đeo quanh cổ tôi.Ngài biến sức lực tôi ra yếu ớt.Ngài trao tôi vào tay kẻ mạnh hơn tôi.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

15Tus Tswv muab kuv cov tub rogsiab loj siab tuab uas nyob hauvkuv nruab nrab huvsi tso tseg,nws hu ib pab tub rog coob coobtuaj tawm tsam kuv kom thiaj tsuam taukuv cov tub hluas ntsoog tag.Vajtswv muab Yuda tus ntxhais uas dawb huvtsuj ib yam li tsuj txiv hmabhauv lub qhov tsuam kua txiv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Chúa đã làm nên hư không lính chiến ở giữa ta. Ngài đã nhóm hội lớn nghịch cùng ta, đặng nghiền kẻ trai trẻ ta. Chúa đã giày đạp như trong bàn ép con gái đồng trinh của Giu-đa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Chúa đã khinh thườngMọi lính chiến ở giữa tôi;Ngài triệu tập một đội quân đông đúc chống lại tôiĐể nghiền nát các thanh niên tôi;Chúa đã giày đạp trinh nữ Giu-đaNhư đạp nho trong hầm ép rượu.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15CHÚA đã loại bỏ tất cả các dũng sĩ ở giữa tôi;Ngài đã triệu tập một đội quân đông đảo để chống lại tôi, để tiêu diệt những chiến sĩ trẻ của tôi;CHÚA đã giày đạp tôi như người ta đạp nho trong bồn ép nho làm rượu;Ngài đã giày đạp người trinh nữ, là Ái Nữ của Giu-đa.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Những dũng sĩ của tôi, Ngài chất lại thành đống như bó lúa. Chúa nhóm quân thù Đến nghiền nát các chàng trai. Nàng trinh nữ Giu-đa đã bị Chúa chà đạp Như thể ép nho trong bồn rượu.

Bản Phổ Thông (BPT)

15CHÚA đã gạt bỏ những người mạnh dạntrong vách thành tôi.Ngài đưa đạo quân đến chống nghịch tôiđể tiêu diệt các trai tráng của tôi.CHÚA đã đè bẹp thủ đô của Giu-đa,như bàn ép rượu.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

16Vim li no kuv thiaj quaj,kuv lub qhov muag muaj kua muag ntws los,vim yog tus uas nplij siabnyob deb ntawm kuv lawm,yog tus uas yuav txhawb kuv lub siabkom rov muaj zog.Kuv cov menyuam kuj nyob ua ntsos ua ntsuag,vim cov yeeb ncuab twb kov yeej lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Vậy nên ta khóc lóc; mắt ta tuôn nước mắt; Vì kẻ yên ủi làm tỉnh hồn ta thì đã xa ta. Con cái ta bị đơn chiếc, vì kẻ thù đã thắng trận.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Vì thế mà tôi khóc;Mắt tôi tuôn trào giọt lệ;Vì người an ủi tôi đã xa tôi,Không ai làm tươi tỉnh tâm linh tôi.Con cái tôi bơ vơ,Vì kẻ thù đã thắng thế.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Vì những điều ấy nên tôi khóc,Mắt tôi cứ đổ lệ dầm dề;Vì Ðấng an ủi tôi, Ðấng làm cho nhuệ khí của tôi phục hồi, đã lìa xa tôi;Các con cái của tôi đói khổ cơ cực, vì quân thù đã thắng hơn tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Vì cớ mọi sự đó mà tôi khóc lóc, Nước mắt đầm đìa. Nhưng không ai gần tôi để mà an ủi, Không ai đem lại sức sống cho tôi. Con cái tôi đơn côi, sửng sốt, Vì kẻ thù đắc thắng tràn lan.”

Bản Phổ Thông (BPT)

16Tôi than van về những điều ấy;mắt tôi đẫm lệ.Nào ai gần gũi để an ủi tôi,chẳng ai phục hồi sức lực cho tôi.Con cái tôi như đất bỏ hoang,vì kẻ thù đã thắng thế.”

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

17Xi‑oo cev kiag ob txhais tes,tiamsis tsis muaj leejtwg nplij tau nws.Yawmsaub tau hais tseg txog Yakhauj tiastej uas nyob ib ncig nwsyuav ua nws cov tshawj chim,Yeluxalees ntxeev ua yam uas qias tsis huvrau hauv lawv nruab nrab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Si-ôn giơ tay, chẳng ai yên ủi nó; Đức Giê-hô-va đã truyền về Gia-cốp: những kẻ chung quanh nó nghịch cùng nó. Giê-ru-sa-lem ở giữa chúng nó như một sự ô uế.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Si-ôn đưa tay ra,Nhưng chẳng ai an ủi nó;Đức Giê-hô-va đã khiến cho các lân bangTrở thành kẻ thù của Gia-cốp;Giê-ru-sa-lem đã trở thànhMột vật ô uế ở giữa chúng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Si-ôn đưa tay ra van xin cứu giúp, nhưng không ai làm gì để an ủi nàng;CHÚA đã ra lịnh cho các láng giềng của Gia-cốp rằng chúng phải trở thành các kẻ thù của ông;Giê-ru-sa-lem đã trở nên một vật ô nhơ giữa các láng giềng của nàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Si-ôn đã giơ tay lên cầu cứu, Nhưng không ai đến an ủi nàng. CHÚA ra lệnh cho các nước láng giềng Trở nên thù địch của nhà Gia-cốp. Giê-ru-sa-lem đã thành Một thứ trò cười giữa vòng chúng.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Giê-ru-sa-lem giơ tay ra,nhưng không ai an ủi nó.CHÚA đã truyền cho các kẻ thù của dân Gia-cốp vây hãm họ.Giê-ru-sa-lem hiện cũng ô dơnhư những kẻ quanh mình.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

18“Yawmsaub yeej ua ncaj,vim yog kuv tawv nyom nws tej lus.Ib tsoom neeg, cia li mloog,cia li saib kuv tej kev txom nyem lwj siab,kuv tej ntxhais hluas thiab tej tub hluasraug ntes coj mus lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Đức Giê-hô-va là công bình, vì ta đã bạn nghịch cùng mạng Ngài. Hỡi các dân, xin hãy nghe hết thảy, hãy xem sự buồn bực ta! Gái đồng trinh và trai trẻ ta đã đi làm phu tù.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18“Đức Giê-hô-va là Đấng công chính,Vì tôi đã chống lại mệnh lệnh Ngài.Hỡi tất cả các dân, hãy lắng ngheHãy nhìn nỗi khổ đau của tôi!Thanh niên, thiếu nữ tôiĐã bị lưu đày.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18CHÚA thật là công chính, vì tôi đã nổi loạn chống lại mạng lịnh Ngài;Này hỡi muôn dân, xin hãy lắng nghe, và hãy nhìn xem những đau khổ tôi đang gánh chịu;Các thiếu nữ và các thanh niên của tôi đã bị bắt đem lưu đày cả rồi.

Bản Dịch Mới (NVB)

18CHÚA là Đấng công bình, Chính tôi là người phản nghịch. Hỡi các dân tộc, hãy lắng tai nghe, Hãy nhìn xem nỗi khổ đau tôi đang chịu đựng. Các con trai và con gái tôi Đã bị lưu đày.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Giê-ru-sa-lem nói, “CHÚA hành động rất đúng,nhưng tôi không vâng lời Ngài.Toàn dân, hãy nghe đây,hãy nhìn nỗi khốn khổ ta.Các thanh niên thiếu nữ tađã bị bắt làm tù binh.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

19Kuv twb hu tej uas nyiam kuvtiamsis lawv dag kuv,kuv cov pov thawj thiab cov kev txwj lauskuj tuag tag hauv plawv nroog,rau thaum lawv mus nrhiav mov nojkom thiaj li rov muaj zog.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Ta đã kêu gọi những kẻ yêu mến ta, nhưng họ lừa dối ta. Các thầy tế lễ và trưởng lão đã tắt hơi trong thành, Khi họ tìm đồ ăn để tươi tỉnh linh hồn mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Tôi đã kêu cầu những người thân thiếtNhưng họ lừa dối tôi;Các thầy tế lễ và trưởng lãoĐã chết trong thành,Trong lúc tìm thức ănĐể phục hồi sức lực.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Tôi kêu gọi những người yêu của tôi đến giúp đỡ, nhưng chúng đã gạt tôi;Các tư tế và các trưởng lão của tôi đã chết thảm trong thành, khi họ cố tìm chút gì để ăn đỡ đói, hầu giữ lại mạng sống của họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Tôi kêu cầu những người đồng bạn, Chúng lừa gạt tôi, chúng phản bội tôi rồi. Các thầy tế lễ và các trưởng lão của tôi Ngã gục trong thành phố, Khi cố sức tìm thức ăn Hầu kéo dài mạng sống.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Ta kêu cứu cùng bạn ta,nhưng họ đều nghịch lại ta.Các thầy tế lễ và các bô lão tađều đã chết trong thànhtrong lúc tìm thức ăn để sống còn.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

20Au Yawmsaub, thov tsa muag saibvim yog kuv raug kev lwj siab,kuv lub siab ntxhov hnyo,kuv lub siab puas tag,vim yog kuv tawv nyom heev.Sab nraud hniav ntaj ua rau neeg ua ntsuag,sab hauv tsev kuj muaj kev tuag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Hỡi Đức Giê-hô-va, xin đoái xem, vì tôi gặp hoạn nạn; lòng tôi bối rối: Trái tim tôi chuyển động, vì tôi bạn nghịch lắm lắm! Ở ngoài có gươm dao làm cho mất, trong nhà có sự tử vong.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Lạy Đức Giê-hô-va, xin đoái xem!Con đang khốn khổ dường nào;Ruột gan con rối bời; lòng con nổi loạn.Vì con vô cùng ngang bướng!Ngoài đường gươm đao chém giếtTrong nhà chết chóc tràn lan.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Lạy CHÚA, xin Ngài xem, con tuyệt vọng biết bao!Bụng con phập phồng lo sợ, tim con hồi hộp âu lo,Vì con đã quyết tâm chống lại Ngài, Nên ngoài đường gươm đao thi nhau lấy mạng, còn trong nhà thần chết tiếp tục hoành hành.

Bản Dịch Mới (NVB)

20“Lạy CHÚA, xin đoái xem con khốn khổ chừng nào, Lòng dạ con bối rối bất an, Tâm hồn con điêu đứng, loạn cuồng, Vì con phản nghịch, cứng đầu, cứng cổ. Bên ngoài, gươm giáo giết hại, Bên trong, chết chóc tràn lan.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Lạy Chúa, xin hãy nhìn tôi.Tôi lo lắng và vô cùng bối rối.Lòng tôi lo âu,vì tôi đã quá ngoan cố.Ngoài đường phố thì gươm giết;bên trong nhà thì chết chóc hoành hành.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

21Lawv hnov kuv ntsaj li cas,tsis muaj ib tug twg nplij kuv lub siab li.Kuv cov yeeb ncuab sawvdaws tau hnovtej xwm txheej uas kuv raug,lawv zoo siab rau qhov uas koj ua li no.Koj cia li coj hnubuas koj tshaj tawm lawm los txog,mas cia lawv raug ib yam li uas kuv thiab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Người ta nghe tiếng tôi than thở, chẳng ai hề yên ủi. Mọi kẻ thù nghe tin tôi bị nạn, biết Ngài đã làm thì mừng rỡ. Ngày Ngài đã rao, Ngài sẽ khiến đến!… Chúng nó sẽ giống như tôi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Chúng nghe tiếng con than thở,Nhưng không ai đến an ủi.Mọi kẻ thù con đều mừng rỡ,Khi Ngài đem tai họa đến cho con.Xin đem ngày mà Ngài đã rao báo đến,Để chúng cũng khốn khổ như con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Người ta đã nghe tiếng con rên rỉ, nhưng chẳng ai đến an ủi con.Khi tất cả kẻ thù của con nghe tin con bị khổ đau hoạn nạn, chúng nhảy nhót vui mừng vìNgài đã làm việc ấy cho con.Xin Ngài sớm thực hiện ngày Ngài đã tuyên án phạt, để chúng sớm biết mùi đau khổ như con.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Xin Chúa nghe con rên xiết, Không ai an ủi cho con. Kẻ thù nghe tin con khốn khổ, Chúng reo mừng vì Ngài đã trừng phạt con, Xin giáng xuống chúng ngày tai họa mà Ngài từng rao báo, Hầu cho chúng cũng đồng khốn khổ như con.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Xin hãy nghe tiếng tôi than vãn,không ai an ủi tôi.Tất cả các kẻ thù tôi đều nghe biết sự khốn khổ tôi,chúng mừng rỡ vì Ngài đã làm điều ấy cho tôi.Ngài bảo rằng sẽ có thời kỳ trừng phạt,Ngài nói rằng Ngài sẽ trừng phạt kẻ thù tôi.Bây giờ xin hãy thực hiện lời CHÚA đã tuyên bố,rằng kẻ thù tôi sẽ gặp cảnh ngộ như tôi.

Vajtswv Txojlus (HMOWSV)

22Cia lawv tej kev phem huvsilos tshwm rau ntawm koj xubntiag,thov koj ua rau lawv ib yam li koj ua rau kuvvim yog kuv tej kev fav xeeb huvsi,kuv ntsaj heev kawg li thiab kuv lub siabqaug zog kawg nkaus li lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Nguyền cho mọi tội chúng nó bày ra trước mặt Ngài! Xin đãi chúng nó như đãi tôi bởi cớ mọi tội lỗi tôi; Vì tôi than thở nhiều, và lòng tôi mòn mỏi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Xin cho mọi gian ác chúng lộ ra trước mặt Ngài!Xin Ngài phạt chúngNhư Ngài đã phạt conVì mọi tội con đã phạm;Con đã than thở nhiềuVà tim con héo hắt.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Nguyện các việc ác của chúng bị phơi bày trước thánh nhan Ngài;Nguyện Ngài đối xử với chúng như đã đối xử với con,Vì mọi tội phản bội của con, con đã phải thở than rên rỉ quá nhiều, Và lòng con giờ đã nao sờn mệt mỏi.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Nguyện trước mặt Ngài, chúng lộ ra gian ác. Xin Ngài trừng phạt chúng nặng nề. Như con đã bị Ngài mạnh tay đối xử, Vì sự cứng đầu phản nghịch của con. Con đã than thở nhiều, Và tim con trở nên héo hắt.”

Bản Phổ Thông (BPT)

22Xin hãy xem xét điều ác của chúng nó.Hãy làm cho chúng nónhư Ngài đã làm cho tôi vì tội lỗi tôi.Tôi than vãn đi than vãn lại,lòng tôi đâm ra sợ hãi.”