So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Parnai Yiang Sursĩ(BRU)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

1Cứq la Yacỡ chĩc choâiq thỡ nâi cơiq sa‑óh anhia. Cứq la cũai ca pruam táq ranáq yỗn Yiang Sursĩ cớp yỗn Yê-su Crĩt, Ncháu hái. Cứq chĩc choâiq nâi cơiq sa‑óh nheq tữh anhia muoi chít la bar tỗp tŏ́ng toiq I-sarel ca ỡt parsáng-parsaiq tâng dũ cruang.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Gia-cơ, tôi tớ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus Christ, đạt cho mười hai chi phái ở tan lạc, chúc bình an!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Gia-cơ, đầy tớ của Đức Chúa Trời và của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, kính gửi mười hai bộ tộc đang sống tản lạc khắp nơi. Chúc anh em an vui!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Gia-cơ, đầy tớ của Ðức Chúa Trời và của Ðức Chúa Jesus Christ, kính gởi mười hai chi tộc đang sống rải rác khắp nơi. Kính chào anh chị em.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Gia-cơ, đầy tớ của Đức Chúa Trời và của Chúa Cứu Thế Giê-su, Kính gửi mười hai chi tộc tản mát khắp các nước. Kính chào anh chị em!

Bản Phổ Thông (BPT)

1Gia-cơ, tôi tớ của Thượng Đế và của Chúa Cứu Thế Giê-xu, kính gởi các dân Chúa đang sống tản lạc khắp nơi trên thế giới.Kính thăm anh chị em.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

2Sễm ai ơi! Máh ŏ́c túh coat ca toâq pỡ anhia, cóq anhia noap ŏ́c ki la ŏ́c bũi,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Thưa anh chị em của tôi, mỗi khi anh chị em gặp thử thách trăm bề xảy đến cho mình, xin hãy xem tất cả những điều đó như niềm vui,

Bản Dịch Mới (NVB)

2Thưa anh chị em, khi gặp những thử thách khác nhau, anh chị em hãy xem tất cả là điều vui mừng,

Bản Phổ Thông (BPT)

2Thưa anh chị em, khi gặp đủ thứ nghịch cảnh, hãy nên vui mừng,

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

3yuaq anhia dáng ŏ́c túh coat nâi toâq dŏq chim anhia sa‑âm Yiang Sursĩ samoât samơi, ma tỡ bữn. Cớp ŏ́c túh coat nâi chuai mứt pahỡm anhia yỗn rơi tanhĩr.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh chị em sinh ra khả năng chịu đựng.

Bản Dịch Mới (NVB)

3vì biết rằng đức tin anh chị em có bị thử nghiệm mới sinh ra kiên nhẫn,

Bản Phổ Thông (BPT)

3vì biết rằng nghịch cảnh thử nghiệm đức tin anh chị em, từ đó tạo ra tính nhẫn nhục.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

4Toâq anhia rơi tanhĩr ŏ́c túh coat, ki mứt pahỡm anhia cỡt pacái lứq. Ngkíq mứt pahỡm anhia tỡ bữn khlâiq muoi ŏ́c o ntrớu yáng moat Yiang Sursĩ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Khi khả năng chịu đựng đạt đến mức đầy đủ, anh chị em sẽ trưởng thành và trọn vẹn, không thiếu điều gì.

Bản Dịch Mới (NVB)

4kiên nhẫn có hoàn tất công việc thì anh chị em mới trưởng thành, toàn vẹn, không thiếu sót gì.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Hãy để tính nhẫn nhục nẩy nở đầy đủ trong việc làm, để anh chị em được hoàn toàn, không khiếm khuyết điều gì.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

5Khân bữn cũai tễ anhia ma ŏ́q ŏ́c rangoaiq, cóq án sễq tễ Yiang Sursĩ. Chơ Yiang Sursĩ lứq yỗn án bữn ramứh án sễq. Cớp Yiang Sursĩ tỡ nai nhôp cũai sễq tễ án.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Nếu người nào trong anh em thiếu sự khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho, vì Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không lời phiền trách.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Nếu ai trong anh chị em thiếu khôn ngoan, người ấy hãy cầu xin Ðức Chúa Trời, Ðấng ban cho mọi người cách rộng rãi và không hề phiền trách, thì người ấy sẽ được ban cho.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Nếu trong anh chị em có ai thiếu khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì sẽ được Ngài ban cho; Ngài là Đấng ban cho mọi người cách rộng lượng, không quở trách.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Trong anh chị em có ai thiếu khôn ngoan, hãy cầu xin Thượng Đế. Ngài là Đấng rộng rãi, sẵn sàng ban cho mọi người, nên chắc hẳn Ngài sẽ cho anh chị em sự khôn ngoan.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

6Ma toâq anhia sễq tễ Yiang Sursĩ, cóq anhia sa‑âm. Anhia chỗi chanchớm Yiang Sursĩ tỡ bữn yỗn ŏ́c anhia sễq. Cũai aléq ma chanchớm ngkíq, cũai ki la samoât riang dỡq canoâq chanchoâc bo cuyal phát, chơ cỡt chanchoâc níc.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Nhưng phải cầu xin bằng đức tin, không chút nghi ngờ, vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió dập dồi và cuốn đi đây đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Nhưng người ấy phải lấy đức tin mà cầu xin, đừng nghi ngờ, vì người hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị dồi lên dập xuống theo luồng gió.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Nhưng người ấy hãy lấy đức tin mà cầu xin, không chút nghi ngờ vì người nghi ngờ giống như sóng biển bị gió đưa đẩy, dập dồi.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Tuy nhiên khi cầu xin phải có lòng tin, không được ngờ vực; vì người hoài nghi giống như sóng biển nhấp nhô theo luồng gió.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

7Cũai ngkíq, án tỡ têq ngcuang bữn roap ŏ́c ntrớu án sễq tễ Yiang Sursĩ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Người như thế đừng tưởng mình sẽ nhận được điều gì từ nơi Chúa,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Người như thế đừng mong sẽ nhận được gì từ Chúa.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Người như thế đừng mong nhận lãnh điều gì từ nơi Chúa;

Bản Phổ Thông (BPT)

7-8Những người hoài nghi như thế hay phân vân giữa hai việc, lòng không ổn định. Người như vậy đừng mong nhận được gì từ nơi Chúa.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

8Cũai ki bữn bar mứt, ngkíq án saria sarnớm, tỡ dáng ntrớu án ễ chanchớm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8ấy là một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8vì đó là một người phân tâm, không ổn định trong mọi đường lối của mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Ðó là một người hai lòng, không dứt khoát trong mọi đường lối mình.

Bản Dịch Mới (NVB)

8đó là người hai lòng, không kiên định trong mọi đường lối của mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

7-8Những người hoài nghi như thế hay phân vân giữa hai việc, lòng không ổn định. Người như vậy đừng mong nhận được gì từ nơi Chúa.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

9Máh sễm ai tâng tỗp sa‑âm ca cadĩt, cóq alới sâng bũi ỡn, yuaq alới cỡt toâr tê yáng moat Yiang Sursĩ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Anh em nào ở địa vị thấp hèn hãy khoe mình về phần cao trọng mình,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Anh em nào ở chỗ thấp kém, hãy tự hào về vị trí cao trọng của mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Anh chị em nào nghèo khó, hãy hãnh diện về địa vị cao trọng của mình.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Anh chị em nào ở địa vị thấp kém, hãy tự hào về chỗ cao trọng của mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Các tín hữu đang ở địa vị thấp hèn nên hãnh diện vì Thượng Đế đã khiến họ giàu có về tâm linh.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

10Ma máh sễm ai tâng tỗp sa‑âm ca sốc, cóq alới sâng bũi ỡn yuaq Yiang Sursĩ tỡ bữn noap ntrớu crơng sanốc alới bữn tâng dỡi nâi. Yuaq nỡ‑ra alới cóq cuchĩt pứt machớng piar bát.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10kẻ giàu cũng hãy khoe mình về phần đê hèn, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Còn người giàu, hãy tự hào về vị trí thấp kém của mình, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Còn anh chị em nào giàu có, hãy hãnh diện về địa vị thấp kém của mình, vì người giàu sẽ chóng qua như hoa cỏ.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Kẻ giàu cũng tự hào về chỗ thấp kém của mình vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Còn người giàu cũng nên hãnh diện vì Thượng Đế đã khiến họ nghèo về tâm linh. Kẻ giàu sẽ chết như hoa dại trong đồng cỏ.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

11Moat mandang claq rêng lứq, chơ cỡt phũac dễh-dễh, cớp piar bát cỡt khỗ cớp saroi. Ngkíq piar ki cỡt abuoiq nheq, tỡ bữn o noâng. Cũai sốc la machớng ki tê. Alới tál yoc ễ bữn sa‑ữi sanốc, ma alới tỡ dáng tangái léq alới cuchĩt.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Mặt trời mọc lên, nắng xẵng, cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp tồi tàn: kẻ giàu cũng sẽ khô héo như vậy trong những việc mình làm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Mặt trời mọc lên với sức nóng thiêu đốt làm cho cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp phai tàn. Người giàu cũng sẽ khô héo giữa những toan tính mình như vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Khi mặt trời mọc lên, tỏa hơi nóng, khiến cỏ khô, hoa rụng, và vẻ đẹp của nó phai tàn; người giàu cũng vậy, giữa chừng các công việc của mình, người ấy chợt héo khô tàn rụi.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Mặt trời mọc lên nung nấu làm cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp tàn phai; kẻ giàu cũng sẽ suy tàn trong cuộc đời mình như vậy.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Mặt trời lên, nắng cháy khiến cỏ cây khô héo. Hoa rơi, vẻ đẹp tồi tàn. Cũng vậy, người giàu sẽ biến mất trong khi mải lo công việc làm ăn.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

12Bốn lứq cũai ca tanhĩr ŏ́c túh coat, yuaq vớt án tanhĩr, án bữn cóng tamoong mantái. Yiang Sursĩ khoiq ữq ễ yỗn nheq tữh cũai ca ayooq án bữn tamoong mantái.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Phước cho người chịu đựng sự thử thách; vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Phước cho người kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì sau khi trải qua cơn rèn thử, người ấy sẽ nhận được mão của sự sống, mà Chúa đã hứa cho những người yêu kính Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Phước cho người chịu đựng thử thách, vì sau cơn thử luyện sẽ được lãnh mão sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho Người yêu kính Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Ai bị cám dỗ mà còn đứng vững, hãy vui mừng; vì sau khi đã chứng tỏ đức tin mình thì Thượng Đế sẽ ban thưởng cho họ sự sống đời đời là điều Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

13Cũai aléq ma sâng yoc ễ táq ranáq lôih, án tỡ têq pai Yiang Sursĩ radững án táq ranáq ki, yuaq Yiang Sursĩ tỡ nai táq lôih, cớp tỡ nai radững cũai táq ranáq ngkíq.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Chớ có ai đương bị cám dỗ mà nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Đang lúc bị cám dỗ đừng ai nói: “Tôi bị Đức Chúa Trời cám dỗ”; vì Đức Chúa Trời không thể nào bị điều ác cám dỗ, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Khi ai bị cám dỗ, người ấy chớ nói, “Tôi bị Ðức Chúa Trời cám dỗ,” vì Ðức Chúa Trời không thể bị điều ác cám dỗ, và chính Ngài không cám dỗ ai.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Người đang bị cám dỗ đừng nên nói: “Sự cám dỗ này đến từ Chúa” vì Đức Chúa Trời không cám dỗ ai cũng không bị điều ác nào cám dỗ.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Khi bị cám dỗ thì không nên nói, “Thượng Đế cám dỗ tôi.” Thượng Đế không bị điều ác nào cám dỗ, mà chính Ngài cũng không cám dỗ ai.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

14Ma ngê tâng mứt pahỡm cũai bữm dốq ham táq ranáq sâuq. Ngkíq ngê ki radững cũai táq ranáq lôih.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Nhưng mỗi người bị cám dỗ bởi chính dục vọng mình lôi cuốn và quyến dụ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Nhưng một người bị cám dỗ khi người ấy để dục vọng mình quyến rũ và lôi cuốn mình theo.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Nhưng mỗi người bị dục vọng mình lôi cuốn và quyến rũ.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Người ta bị cám dỗ khi dục vọng xấu xa bên trong thúc đẩy họ lầm lạc và khiến họ sập bẫy.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

15Khân ŏ́c sâuq khoiq dáh tâng mứt pahỡm cũai, cũai ki lứq táq ranáq lôih. Cớp khân ranáq lôih ki cỡt toâr achỗn tâng mứt pahỡm cũai ki, nỡ‑ra cũai ki cuchĩt.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Rồi khi dục vọng đã cưu mang thì sinh ra tội lỗi; tội lỗi đã trưởng thành thì sinh ra sự chết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Khi dục vọng thai nghén, nó sinh ra tội lỗi; khi tội lỗi phát triển đầy đủ, nó sinh ra sự chết.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Dục vọng thai nghén sinh ra tội lỗi; tội lỗi trưởng thành sinh ra sự chết.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Dục vọng đó đưa đến tội lỗi, tội lỗi sinh sôi nẩy nở và dẫn đến sự chết.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

16Ơ sễm ai ơi! Cứq sâng ayooq lứq anhia. Ngkíq cứq tỡ ễq anhia phếq tỗ anhia bữm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Hỡi anh em yêu dấu, chớ tự dối mình:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Thưa anh em yêu dấu của tôi, đừng để bị lừa dối:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Thưa anh chị em yêu dấu, đừng để mình bị lừa dối.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Anh chị em thân yêu của tôi ơi! Đừng bị lừa dối:

Bản Phổ Thông (BPT)

16Các anh chị em yêu dấu, chớ mắc lừa về điều nầy.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

17Dũ ramứh o hái bữn, ramứh ki sễng tễ paloŏng. Yiang Sursĩ toâp yỗn hái bữn ŏ́c ki, cớp hái tỡ bữn khlâiq muoi ramứh o ntrớu. Yiang Sursĩ khoiq tễng dũ ŏ́c poang tâng paloŏng. Ŏ́c poang ki ralêq níc, tráh cớp pum. Ma Yiang Sursĩ tỡ nai ralêq; cu cumo án machớng níc.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Mọi ơn lành tốt đẹp và tặng phẩm toàn hảo đều đến từ thiên thượng, được ban xuống từ Cha của sự sáng; trong Ngài không có sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự chuyển dịch.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Mọi ơn phước tốt đẹp và mọi quà tặng toàn hảo đều đến từ thiên thượng, từ Cha của mọi nguồn sáng ban xuống; Ngài không bao giờ thay đổi, và cũng không có bóng biến đổi nào nơi Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Tất cả các ân huệ tốt lành cũng như tất cả các ân tứ toàn hảo đều đến từ trên cao và do Cha sáng láng ban xuống. Ngài chẳng bao giờ thay đổi, cũng không có bóng biến thiên nào nơi Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Mọi hành vi tốt đẹp và mọi ân tứ hoàn toàn đều từ Thượng Đế mà đến là Đấng dựng nên mặt trời, mặt trăng, các vì sao. Ngài không thay đổi như bóng di động của các tinh tú đó.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

18Yiang Sursĩ rưoh hái yỗn cỡt con án la cỗ nhơ parnai pĩeiq tễ án. Chơ Yiang Sursĩ yỗn hái cỡt toâr hỡn tễ dũ ramứh án khoiq tễng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Ấy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta được nên như trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Ngài đã dùng lời chân lý sinh chúng ta theo ý định của Ngài, để chúng ta trở thành một loại trái đầu mùa trong các tạo vật của Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Theo ý muốn của Ngài, Ngài đã dùng Lời chân lý sinh chúng ta, để chúng ta có thể thành một loại trái đầu mùa trong các loài thọ tạo của Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Chính Ngài đã sinh thành chúng ta bởi lời chân thật đúng theo ý định Ngài, để chúng ta thành một loại trái đầu mùa của muôn loài Ngài sáng tạo.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Ngài đã ban cho chúng ta sự sống qua lời của chân lý để chúng ta đứng đầu trong mọi vật Ngài dựng nên.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

19Anhia la sễm ai ca cứq ayooq lứq. Ngkíq cứq yoc anhia tamứng máh santoiq nâi cứq atỡng anhia. Dũ náq anhia cóq tamứng chái, ma pai laviei. Cớp chỗi coâp nsóq,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Thưa anh em yêu dấu của tôi, anh em phải biết điều nầy: Mọi người đều phải mau nghe, chậm nói, chậm giận;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Thưa anh chị em yêu dấu, anh chị em phải biết điều nầy: mỗi người phải mau nghe, chậm nói, và chậm giận;

Bản Dịch Mới (NVB)

19Thưa anh chị em thân yêu, hãy ý thức điều này: Mỗi người phải mau nghe, chậm nói, chậm giận,

Bản Phổ Thông (BPT)

19Anh chị em yêu dấu, lúc nào cũng phải mau nghe mà chậm nói. Đừng nóng tính,

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

20yuaq mứt pahỡm nsóq tỡ têq táq ranáq tanoang o tễ Yiang Sursĩ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20vì cơn giận của loài người không thực hiện sự công chính của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20vì cơn giận của người ta không đem lại công lý của Ðức Chúa Trời.

Bản Dịch Mới (NVB)

20vì cơn giận của con người không thể hiện đức công chính của Đức Chúa Trời.

Bản Phổ Thông (BPT)

20vì sự nóng giận không giúp anh chị em sống đẹp lòng Thượng Đế đâu.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

21Ngkíq, cóq anhia táh nheq máh ranáq sâuq anhia dốq táq cớp ngê lôih anhia dốq puai. Cớp cóq anhia roap ĩt parnai ca Yiang Sursĩ khoiq chóh tâng mứt pahỡm anhia, na mứt lamên, yuaq parnai ki têq yỗn raviei anhia bữn tamoong mantái.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Vậy, hãy bỏ đi mọi điều ô uế và mọi điều gian ác còn lại, đem lòng nhu mì nhận lấy lời đã trồng trong anh em, là lời cứu được linh hồn của anh em.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Vậy, hãy loại bỏ mọi điều ô uế và gian ác đang lan tràn, lấy lòng nhu mì tiếp nhận lời đã trồng trong anh em, là lời có thể cứu chuộc linh hồn anh em.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Vậy hãy cất bỏ khỏi anh chị em mọi điều ô uế và những gì xấu xa gian ác còn lại, với lòng khiêm nhường hãy tiếp nhận Lời được cấy trong anh chị em, đó là Lời có thể cứu linh hồn anh chị em.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Vì thế, hãy bỏ tất cả những điều ô uế, gian ác đang lan tràn, lấy lòng mềm mại nhận lấy lời Chúa đã trồng trong anh chị em, là lời có khả năng cứu rỗi linh hồn anh chị em.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Cho nên, hãy dẹp khỏi đời sống anh chị em mọi điều gian ác, mọi hành động sái bậy. Hãy hiền hòa đón nhận lời dạy của Thượng Đế đã được trồng trong lòng, là lời có thể cứu rỗi anh chị em.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

22Cóq anhia táq puai samoât lứq parnai Yiang Sursĩ. Anhia chỗi tamứng mahỗi, chơ khlĩr toâp. Khân anhia khoiq sâng parnai Yiang Sursĩ, ma anhia tỡ bữn puai lứq samoât, anhia chống thũ mứt anhia bữm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Hãy là những người làm theo Lời, chứ không là những người chỉ nghe và lừa dối mình.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Hãy thực hành Lời Chúa, đừng tưởng chỉ nghe là đủ mà tự lừa dối mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Hãy làm theo lời dạy của Thượng Đế, vì nếu chỉ nghe mà không làm, thì chỉ tự gạt mình thôi.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

23Yuaq cũai aléq tamứng parnai Yiang Sursĩ ma án tỡ bữn táq puai, án la samoât cũai loang kếng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Vì, nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người kia soi mặt mình trong gương,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Vì nếu người nào nghe lời mà không làm theo thì giống như người kia soi mặt mình trong gương,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Thật vậy, ai chỉ nghe Lời mà không làm theo thì giống như một người nhìn mặt mình trong gương;

Bản Dịch Mới (NVB)

23Kẻ nào nghe Lời Chúa mà không thực hành cũng giống như một người soi mặt trong gương,

Bản Phổ Thông (BPT)

23Kẻ nào nghe lời Thượng Đế mà không làm theo, giống như người soi gương,

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

24Án hữm roâp án samoât lứq, ma tữ án pỡq tễ kếng, án khlĩr toâp roâp án.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24ngắm rồi bỏ đi và quên ngay mặt mình như thể nào.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24người ấy nhìn mặt mình xong, rồi đi, và lập tức quên mình ra thể nào.

Bản Dịch Mới (NVB)

24thấy rồi bỏ đi, quên ngay mặt mình như thế nào.

Bản Phổ Thông (BPT)

24trông thấy mặt mình rồi bỏ đi, quên mất mặt mình ra sao.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

25Ma bốn lứq cũai aléq ma ĩt samoât samơi máh parnai o tễ Yiang Sursĩ, yuaq parnai ki têq acláh án tễ cỡt sũl ngê lôih. Cũai ki táq puai níc parnai o, ki án tỡ bữn tamứng mahỗi, chơ khlĩr toâp. Án táq samoât níc máh parnai ki atỡng. Cũai ki bữn ŏ́c bốn tễ Yiang Sursĩ puai loah máh ranáq án táq.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Nhưng kẻ nào xét kỹ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Nhưng người nào xem xét kỹ càng luật pháp toàn hảo nầy, là luật pháp đem lại sự tự do, và bền tâm suy xét, không phải chỉ nghe rồi quên đi, nhưng thực hành luật đó, thì sẽ được phước trong công việc mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Nhưng ai nhìn kỹ vào luật toàn hảo, tức luật đem lại tự do, và cứ vâng giữ luật ấy, không phải là người nghe rồi quên, nhưng là người làm theo những điều luật ấy dạy bảo, người đó sẽ được phước trong những việc mình làm.

Bản Dịch Mới (NVB)

25Nhưng người nào chăm chú nhìn vào luật toàn hảo, là luật đem lại tự do, lại kiên trì tuân giữ, không phải nghe rồi quên đi, nhưng thực hành luật đó, thì sẽ được phước trong việc mình làm.

Bản Phổ Thông (BPT)

25Nhưng người hạnh phúc thật là người học hỏi kỹ càng luật pháp toàn vẹn của Thượng Đế để giải thoát con người, họ tiếp tục học mãi. Họ không quên điều mình nghe, nhưng làm theo lời dạy của Thượng Đế.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

26Khân cũai aléq chanchớm án tanoang o yáng moat Yiang Sursĩ, ma án tỡ dáng rabán lieih án, cũai ki thũ mứt án bữm. Ngê án táq puai tỡ bữn cỡt kia ntrớu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Nếu có ai tưởng mình là người tin đạo mà không kiềm giữ lưỡi mình, nhưng tự dối lòng, thì sự tin đạo của người ấy thật vô ích.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Nếu ai cho mình là người có đạo mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lừa dối lòng mình, sự theo đạo của người đó là vô ích.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Nếu ai tưởng mình sùng đạo mà không kiềm chế lưỡi mình thì người ấy tự lừa dối, theo Đạo như thế thật là vô ích.

Bản Phổ Thông (BPT)

26Ai cho mình ngoan đạo mà ăn nói bừa bãi thì chỉ tự gạt mình. “Đạo” của người đó thật vô dụng.

Parnai Yiang Sursĩ (BRU)

27Ranáq ca Yiang Sursĩ noap bráh o cớp tỡ bữn noau têq pai lôih la neq: Muoi la rachuai cán cumai con cumuiq tễ ŏ́c alới túh coat. Bar la viaq yơng tễ ranáq sâuq tâng dỡi nâi.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là: thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Sự tin đạo thuần khiết, không hoen ố trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng trẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn hoạn nạn của họ, và giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Sự theo đạo trong sạch và không nhơ nhuốc trước mặt Ðức Chúa Trời Cha chúng ta là thăm viếng các cô nhi và các quả phụ trong cơn khốn khó của họ và giữ mình khỏi bị ô nhiễm bởi thế gian.

Bản Dịch Mới (NVB)

27Sống Đạo trong sạch, không ô uế trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là chăm sóc cô nhi quả phụ khi họ gặp hoạn nạn và giữ mình khỏi bị thế gian làm hoen ố.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Đạo được Thượng Đế xem như thanh sạch và hoàn toàn là: chăm sóc trẻ mồ côi và người góa bụa cần giúp đỡ, giữ mình khỏi bị ảnh hưởng xấu xa của thế gian.