So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1“Woe to the shepherds who are destroying and scattering the sheep of my pasture!” declares the Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Đức Giê-hô-va phán: Khốn thay cho những kẻ chăn hủy diệt và làm tan lạc bầy chiên của đồng cỏ ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Đức Giê-hô-va phán: “Khốn cho những kẻ chăn bầy tiêu diệt và làm tan tác bầy chiên của đồng cỏ Ta!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1“Khốn thay cho những kẻ chăn bầy đã làm hại và làm tản lạc đàn chiên của đồng cỏ Ta.”

Bản Dịch Mới (NVB)

1CHÚA phán: “Khốn cho những kẻ chăn hủy diệt và làm tan tác bầy chiên của đồng cỏ Ta.”

Bản Phổ Thông (BPT)

1CHÚA phán, “Khốn cho các lãnh tụ Giu-đa là những kẻ phân tán và tiêu diệt dân ta,

New International Version (NIV)

2Therefore this is what the Lord, the God of Israel, says to the shepherds who tend my people: “Because you have scattered my flock and driven them away and have not bestowed care on them, I will bestow punishment on you for the evil you have done,” declares the Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Vậy nên, về những kẻ chăn giữ dân Ngài, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Các ngươi làm tan lạc bầy chiên ta, đã đuổi đi và không thăm nom đến; nầy, ta sẽ thăm phạt các ngươi về những việc dữ mình làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Vì vậy, đây là lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên dành cho những kẻ chăn giữ dân Ta: ‘Các ngươi đã làm tan lạc bầy chiên Ta, xua đuổi và không chú tâm đến chúng. Nầy, Ta sẽ chú ý chống lại các ngươi cùng với những việc gian ác các ngươi làm,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Vì thế, CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế nầy về những kẻ chăn bầy có nhiệm vụ chăn dắt dân Ta, “Chính các ngươi đã làm tan tác đàn chiên của Ta, các ngươi đã làm chúng phải đi xa, và các ngươi đã không chăm sóc chúng. Nầy, Ta sẽ để ý đến các ngươi và sẽ đoán phạt các ngươi vì những việc ác do các ngươi gây ra,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Vì thế, CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy về những người chăn có trách nhiệm chăn giữ dân Ta: “Chính các ngươi đã làm bầy chiên Ta tan tác và xua đuổi chúng đi, không thăm nom chúng.” CHÚA phán: “Này, Ta sẽ thăm phạt các ngươi vì những hành động gian ác của các ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Chúng chịu trách nhiệm đối với dân chúng cho nên CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán cùng chúng như sau: Các ngươi đã phân tán dân ta, đánh đuổi họ đi, không chăm sóc họ nên ta sẽ trừng phạt ngươi về những điều ác ngươi làm,” CHÚA phán vậy.

New International Version (NIV)

3“I myself will gather the remnant of my flock out of all the countries where I have driven them and will bring them back to their pasture, where they will be fruitful and increase in number.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Ta sẽ nhóm những con sót lại của bầy ta, từ các nước mà ta đã đuổi chúng nó đến. Ta sẽ đem chúng nó trở về trong chuồng mình; chúng nó sẽ sanh đẻ thêm nhiều.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Chính Ta sẽ tập hợp những con sót lại của bầy từ các nước mà Ta đã đuổi chúng đến. Ta sẽ đem chúng trở về đồng cỏ của chúng; chúng sẽ sinh sôi nẩy nở thật nhiều.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3“Sau đó, Ta sẽ gom nhóm đàn chiên còn sót lại của Ta từ mọi nước Ta đã đùa chúng đến. Ta sẽ đem chúng trở về ràn của chúng, rồi chúng sẽ sinh sản đông đúc và tăng lên nhiều.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Chính Ta sẽ tập họp những chiên Ta còn sống sót từ khắp mọi nước, nơi Ta đuổi chúng đến. Ta sẽ đem chúng về đồng cỏ của chúng, và chúng sẽ sinh sôi, nảy nở.”

Bản Phổ Thông (BPT)

3“Ta đã đày dân ta qua các xứ khác nhưng ta sẽ gom góp những kẻ sống sót trở về trong xứ mình. Rồi chúng sẽ sinh con đẻ cái đông đảo.

New International Version (NIV)

4I will place shepherds over them who will tend them, and they will no longer be afraid or terrified, nor will any be missing,” declares the Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Ta sẽ lập lên những kẻ chăn nuôi chúng nó; thì sẽ chẳng sợ chẳng hãi nữa, và không thiếu một con nào, Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Ta sẽ lập lên những người chăn để chăn dắt chúng và chúng sẽ chẳng còn sợ hãi, chẳng kinh khiếp nữa, và sẽ không lạc mất một con nào,” Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Ta sẽ dấy lên những người chăn tốt để chăn dắt chúng. Bấy giờ chúng sẽ không phải sợ hãi nữa, chúng sẽ không kinh khiếp nữa, và chúng sẽ không bị lạc mất nữa,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

4CHÚA phán: “Ta sẽ lập lên những người chăn để chăn giữ chúng, chúng sẽ không còn sợ hãi hoặc kinh hoàng nữa, và sẽ không thiếu mất một con chiên nào.”

Bản Phổ Thông (BPT)

4Ta sẽ đặt những lãnh tụ mới trên dân ta là người sẽ chăm sóc chúng. Dân ta sẽ không sợ hãi hay kinh hoàng nữa, sẽ chẳng còn ai bị thất lạc,” CHÚA phán vậy.

New International Version (NIV)

5“The days are coming,” declares the Lord, “when I will raise up for David a righteous Branch, a King who will reign wisely and do what is just and right in the land.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Đức Giê-hô-va phán:“Nầy, những ngày đến,Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh Công Chính;Ngài sẽ cai trị như một vị vua, cư xử khôn ngoan,Thực thi điều công minh chính trực trong xứ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5“Nầy, trong những ngày đến,” CHÚA phán, “Ta sẽ dấy lên cho Ða-vít một Nhánh Công Chính. Người ấy sẽ làm vua cai trị cách khôn ngoan. Người ấy sẽ thi hành công lý và công chính trong xứ.

Bản Dịch Mới (NVB)

5CHÚA phán: “Trong những ngày đến, Ta sẽ khiến cho nhà Đa-vít nảy ra một nhánh chính trực Một vua trị vì cách khôn ngoan, Thi hành sự công bình chính trực trong nước.

Bản Phổ Thông (BPT)

5CHÚA phán, “Sẽ đến ngày ta ươm một nhánh tốttừ nhà Đa-vít.Người sẽ là một vị vua cai trị rất khôn ngoan;làm điều công bằng hợp lý trong xứ.

New International Version (NIV)

6In his days Judah will be saved and Israel will live in safety. This is the name by which he will be called: The Lord Our Righteous Savior.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Đương đời vương đó, Giu-đa sẽ được cứu; Y-sơ-ra-ên sẽ ở yên ổn, và người ta sẽ xưng danh Đấng ấy là: Đức Giê-hô-va sự công bình chúng ta!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Trong đời vua ấy, Giu-đa sẽ được cứu;Y-sơ-ra-ên sẽ sống yên ổn.Danh xưng của Đấng ấy là:‘Giê-hô-va Đấng Công Chính của chúng ta!’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Trong thời của người ấy, Giu-đa sẽ được cứu và I-sơ-ra-ên sẽ sống an toàn. Ðây là danh người ta sẽ gọi người ấy, ‘CHÚA Là Sự Công Chính của Chúng Ta.’

Bản Dịch Mới (NVB)

6Trong đời vua ấy, Giu-đa sẽ được giải cứu, Và Y-sơ-ra-ên sẽ sống an toàn. Và đây là tên của vua: ‘CHÚA là sự chính trực của chúng tôi.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

6Trong triều đại người, Giu-đa sẽ được cứu,và Ít-ra-en sẽ sống yên ổn.Danh Ngài là: CHÚA làm Điều Phải.”

New International Version (NIV)

7“So then, the days are coming,” declares the Lord, “when people will no longer say, ‘As surely as the Lord lives, who brought the Israelites up out of Egypt,’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Đức Giê-hô-va phán: Vậy nên những ngày đến, bấy giờ người ta sẽ chẳng còn nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, tức là Đấng đã đem con cái Y-sơ-ra-ên lên khỏi đất Ê-díp-tô.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Đức Giê-hô-va phán: “Vì thế, những ngày đến, người ta sẽ chẳng còn nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem con dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Vì thế, trong những ngày đến,” CHÚA phán, “Người ta sẽ không còn nói, ‘Nguyện CHÚA hằng sống, Ðấng đã đem dân I-sơ-ra-ên lên khỏi xứ Ai-cập,’

Bản Dịch Mới (NVB)

7CHÚA phán: “Vì thế, trong những ngày đến, người ta sẽ không thề như vầy nữa: ‘Thật như CHÚA Hằng Sống, là Đấng đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập,’

Bản Phổ Thông (BPT)

7CHÚA phán, “Sẽ có ngày dân chúng không còn nói, ‘Thật như CHÚA hằng sống là đấng đã mang Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập …’

New International Version (NIV)

8but they will say, ‘As surely as the Lord lives, who brought the descendants of Israel up out of the land of the north and out of all the countries where he had banished them.’ Then they will live in their own land.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Nhưng nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, tức là Đấng đã đem lên và dắt dòng dõi nhà Y-sơ-ra-ên về từ phương bắc, từ các nước mà ta đã đuổi họ đến. Chúng nó sẽ ở trong đất mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Nhưng sẽ nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đưa dắt dòng dõi nhà Y-sơ-ra-ên về từ phương bắc, từ các nước mà Ngài đã đuổi họ đến.’ Chúng sẽ ở trong đất của mình.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8nhưng sẽ nói, ‘Nguyện CHÚA hằng sống, Ðấng đã đem và đã đưa con cháu của nhà I-sơ-ra-ên ra khỏi phương bắc và ra khỏi mọi nước mà họ đã bị đùa đến.’ Bấy giờ chúng sẽ sống trong đất nước của chúng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

8nhưng là thề: ‘Thật như CHÚA hằng sống, là Đấng đem con cháu nhà Y-sơ-ra-ên về từ vùng đất phương bắc, và từ mọi đất nước nơi Ngài đã đuổi chúng đến.’ Và chúng sẽ sống trong đất nước mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

8mà họ sẽ nói một điều mới, ‘Thật như CHÚA hằng sống là Đấng mang dòng dõi Ít-ra-en ra khỏi xứ miền Bắc và khỏi các xứ mà Ngài đã lưu đày họ …’ Rồi dân Ít-ra-en sẽ sống trong xứ mình.”

New International Version (NIV)

9Concerning the prophets: My heart is broken within me; all my bones tremble. I am like a drunken man, like a strong man overcome by wine, because of the Lordand his holy words.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Về các tiên tri: Lòng ta tan nát trong ta; xương ta thảy đều run rẩy; ta như người say, như người xây xẩm vì rượu, bởi cớ Đức Giê-hô-va và những lời thánh của Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Về các kẻ tiên tri:Lòng dạ tôi tan nát;Xương cốt tôi rã rời;Tôi như người say,Như người say khướt vì rượu,Chính vì Đức Giê-hô-vaVì những lời thánh của Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Về các tiên tri:Lòng tôi tan nát trong tôi,Tất cả xương cốt tôi rã rời;Tôi đã trở nên như một người say rượu,Như một kẻ choáng váng vì bị rượu làm cho say,Vì CHÚA và vì những lời thánh của Ngài,

Bản Dịch Mới (NVB)

9Về các tiên tri: Tâm trí tôi bấn loạn, Xương cốt tôi rã rời, Tôi giống như một người say, Người bị rượu chế ngự, Vì CHÚA, Vì các lời thánh của Ngài:

Bản Phổ Thông (BPT)

9Có lời phán cho các nhà tiên tri:Ta đau lòng lắm.Xương cốt ta run rẩy.Ta giống như người say,như kẻ say rượu vì CHÚAvà vì lời thánh của Ngài.

New International Version (NIV)

10The land is full of adulterers; because of the curse the land lies parched and the pastures in the wilderness are withered. The prophets follow an evil course and use their power unjustly.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Trong đất đầy những kẻ tà dâm; vì cớ bị rủa sả thì đất nên sầu thảm; những đồng cỏ nơi đồng vắng đều khô khan. Người ta chạy theo đường dữ, sức chúng nó là không công bình;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Xứ sở đầy dẫy bọn tà dâm;Bị nguyền rủa nên đất nước sầu thảm,Những đồng cỏ trong hoang mạc đều héo úa.Đường chúng đi là gian tà,Quyền chúng nắm là bất chính.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Vì đất nước đang đầy những kẻ ngoại tình,Vì lời nguyền rủa mà đất nước phải chịu sầu thảm;Những đồng cỏ trong đồng hoang đã trở nên khô cằn.Người ta chỉ lo đeo đuổi những chuyện gian tà;Họ chỉ dồn nỗ lực để làm những điều bất chính.

Bản Dịch Mới (NVB)

10‘Đất nước đầy bọn gian dâm, Đất khô cằn vì lời rủa sả, Đồng cỏ nơi sa mạc úa tàn. Chúng chạy theo đường ác, Lạm dụng uy quyền.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

10Đất Giu-đa đầy những kẻ ngoại tình.Vì vậy CHÚA đã nguyền rủa đất.Xứ đã trở nên tiêu điều,Các đồng cỏ đã khô héo cả.Dân chúng rất độc ácvà lạm dụng sức mạnh mình.

New International Version (NIV)

11“Both prophet and priest are godless; even in my temple I find their wickedness,”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Vì chính kẻ tiên tri thầy tế lễ đều là ô uế, ta thấy sự gian ác chúng nó đến trong nhà ta; Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Đức Giê-hô-va phán:“Kẻ tiên tri lẫn thầy tế lễ đều bại hoại,Ta thấy sự gian ác của chúng ngay trong nhà Ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11“Cả giới tiên tri và giới tư tế đều là phường vô đạo;Ngay ở trong nhà của Ta mà Ta còn thấy chúng làm những việc gian tà,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

11CHÚA phán: “Cả tiên tri lẫn thầy tế lễ đều phạm tội phạm thượng, Ta bắt gặp chúng làm điều gian ác ngay trong nhà Ta,”

Bản Phổ Thông (BPT)

11“Cả tiên tri và thầy tế lễsống như thể không có Thượng Đế.Ta thấy chúng làm chuyện ácngay trong đền thờ ta,” CHÚA phán vậy.

New International Version (NIV)

12“Therefore their path will become slippery; they will be banished to darkness and there they will fall. I will bring disaster on them in the year they are punished,”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Cho nên đường chúng nó sẽ như nơi trơn trợt trong tối tăm, sẽ bị đuổi và vấp ngã tại đó. Vì đến năm chúng nó bị thăm phạt, ta sẽ giáng tai vạ trên chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Cho nên đường lối của chúngSẽ như lối trơn trợt trong tối tăm,Mà chúng bị đuổi vào và vấp ngã tại đó.Vì đến năm trừng phạt,Ta sẽ giáng tai ương trên chúng,”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12“Vì thế đường chúng đi sẽ trở nên trơn trợt,Chúng sẽ bị đẩy vào nơi tăm tối mịt mù,Và chúng sẽ bị ngã nhào trong đó,Vì Ta sẽ mang tai họa đến trên chúng,Vào năm chúng bị đoán phạt,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

12CHÚA phán: “Vì thế, đường chúng đi trơn trợt, Chúng sẽ bị đuổi vào bóng tối, Và ngã nằm dài tại đấy, Vì đến năm Ta Thăm phạt chúng.”

Bản Phổ Thông (BPT)

12“Cho nên chúng sẽ sống trong nguy hiểm.Chúng sẽ bị đẩy vào trong bóng tối,nơi chúng sẽ bị đánh bại.Ta sẽ mang thảm họa đến cho chúngtrong năm ta trừng phạt chúng,” CHÚA phán vậy.

New International Version (NIV)

13“Among the prophets of Samaria I saw this repulsive thing: They prophesied by Baal and led my people Israel astray.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Ta đã thấy rõ sự điên dại của bọn tiên tri xứ Sa-ma-ri; chúng nó nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, khiến dân Y-sơ-ra-ên ta lầm lạc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13“Ta đã thấy sự điên rồCủa bọn tiên tri Sa-ma-ri;Chúng nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri,Khiến dân Y-sơ-ra-ên của Ta lạc lối.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13“Về các tiên tri ở Sa-ma-ri: Ta đã thấy những điều gớm ghiếc: Chúng nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri,Chúng đã dẫn dắt dân I-sơ-ra-ên của Ta đi lạc.”

Bản Dịch Mới (NVB)

13“Ta thấy điều sai quấy Nơi các tiên tri Sa-ma-ri: Chúng nhân danh Ba-anh nói tiên tri, Và dẫn dân Y-sơ-ra-ên Ta đi lạc.

Bản Phổ Thông (BPT)

13“Ta đã thấy các tiên tri trong Xa-ma-ri làm bậy.Các tiên tri đó nói tiên tri nhân danh Ba-anhvà dẫn dân Ít-ra-en đi sai lạc.

New International Version (NIV)

14And among the prophets of Jerusalem I have seen something horrible: They commit adultery and live a lie. They strengthen the hands of evildoers, so that not one of them turns from their wickedness. They are all like Sodom to me; the people of Jerusalem are like Gomorrah.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Nhưng, nơi bọn tiên tri ở Giê-ru-sa-lem, ta đã thấy sự đáng gớm ghiếc: chúng nó phạm tội tà dâm, bước theo sự giả dối; chúng nó làm cho cứng vững tay kẻ dữ, đến nỗi chẳng ai xây bỏ sự ác của mình. Ta coi chúng nó thảy đều như Sô-đôm, và dân cư nó như Gô-mô-rơ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Nhưng giữa bọn tiên tri ở Giê-ru-sa-lem,Ta đã thấy điều kinh tởm:Chúng phạm tội tà dâm, bước đi trong dối trá;Chúng tăng cường sức mạnh cho tay kẻ dữ,Đến nỗi không ai từ bỏ gian ác mình.Ta xem cả bọn chúng như Sô-đôm,Và dân cư Giê-ru-sa-lem như Gô-mô-rơ.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14“Còn các tiên tri ở Giê-ru-sa-lem: Ta lại thấy những điều gớm ghiếc bội phần hơn: Chúng phạm tội ngoại tình và sống bằng những lời nói dối;Chúng tiếp tay củng cố quyền lực của kẻ làm ác, để không ai quay khỏi điều ác;Ðối với Ta, tất cả chúng đều giống như Sô-đôm,Dân cư của thành ấy đều giống như Gô-mô-ra.”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Nhưng Ta lại thấy một điều rùng rợn Nơi các tiên tri Giê-ru-sa-lem: Chúng phạm tội gian dâm, bước đi trong sự dối trá, Khuyến khích kẻ làm ác, Cho nên không ai xây bỏ đường ác mình. Ta coi hết thảy bọn chúng như thành Sô-đôm, Và dân cư Giê-ru-sa-lem như thành Gô-mô-rơ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

14Ta cũng đã thấy các tiên tri trong Giê-ru-sa-lemlàm những việc kinh khủng.Chúng phạm tội ngoại tìnhvà sống bằng những lời dối gạt.Chúng xúi giục những kẻ làm ác,cứ tiếp tục làm ác thêm,Cho nên dân chúng tha hồ phạm tội.Những kẻ đó như thành Xô-đôm.Đối với ta dân cư Giê-ru-sa-lemthật chẳng khác nào thành Gô-mô-rơ!”

New International Version (NIV)

15Therefore this is what the Lord Almighty says concerning the prophets: “I will make them eat bitter food and drink poisoned water, because from the prophets of Jerusalem ungodliness has spread throughout the land.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Vậy nên, về phần bọn tiên tri đó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ cho chúng nó ăn ngải cứu và uống mật đắng; vì các tiên tri ở Giê-ru-sa-lem đã làm cho sự vô đạo tràn ra trong cả xứ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Vì vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán về bọn tiên tri đó như sau:“Kìa, Ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứuVà cho uống nước độc,Vì các kẻ tiên tri ở Giê-ru-sa-lemĐã làm cho sự bại hoại lan tràn khắp xứ.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Vì thế CHÚA các đạo quân phán thế nầy về bọn tiên tri ấy, “Ta sẽ bắt chúng phải ăn ngải đắng,Ta sẽ cho chúng uống nước độc;Vì từ các tiên tri ở Giê-ru-sa-lem sự vô đạo đã lan tràn khắp nước.”

Bản Dịch Mới (NVB)

15Vì thế, CHÚA Vạn Quân phán về các tiên tri như vầy: “Này, Ta sẽ cho chúng ăn ngải cứu, Và uống nước độc, Vì từ các tiên tri Giê-ru-sa-lem, Tội phạm thượng đã lan tràn khắp đất nước.”

Bản Phổ Thông (BPT)

15Cho nên CHÚA Toàn Năng phán như sau về các nhà tiên tri:“Ta sẽ khiến các nhà tiên tri đó ăn vật đắngvà uống nước độc,vì các nhà tiên tri của Giê-ru-sa-lemđã rải điều ác khắp xứ.”

New International Version (NIV)

16This is what the Lord Almighty says: “Do not listen to what the prophets are prophesying to you; they fill you with false hopes. They speak visions from their own minds, not from the mouth of the Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Chớ nghe những lời của các tiên tri nói tiên tri với các ngươi. Chúng nó dạy cho các ngươi sự hư không, và nói sự hiện thấy bởi lòng mình, chẳng phải bởi miệng Đức Giê-hô-va.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Đức Giê-hô-va vạn quân phán:“Đừng nghe lời mà bọn tiên tri đó rao báo cho các ngươi.Chúng gieo rắc hi vọng hão huyền,Nói những khải tượng do chúng tự nghĩ raChứ không bởi miệng Đức Giê-hô-va phán dạy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16CHÚA các đạo quân phán thế nầy, “Chớ nghe lời các tiên tri đó nói tiên tri với các ngươi. Chúng bảo các ngươi tin vào những hy vọng hão huyền. Chúng nói với các ngươi những khải tượng do lòng chúng suy tưởng, chứ không phải những lời do miệng CHÚA phán ra.

Bản Dịch Mới (NVB)

16CHÚA Vạn Quân phán như vầy: “Đừng nghe lời các tiên tri ấy nói với các ngươi, Chúng cho các ngươi nghe toàn chuyện phù phiếm, Chúng nói lên cảnh tượng tâm trí chúng suy ra, Chứ không do miệng CHÚA phán dạy.

Bản Phổ Thông (BPT)

16CHÚA Toàn Năng phán như sau:“Đừng để ý đến những lời các nhà tiên tri đó nói cùng các ngươi.Chúng đang phỉnh gạt các ngươi.Chúng nói theo những dị tượngdo mình bịa đặt ra,không phải do ta mà đến.

New International Version (NIV)

17They keep saying to those who despise me, ‘The Lord says: You will have peace.’ And to all who follow the stubbornness of their hearts they say, ‘No harm will come to you.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Chúng nó cứ bảo kẻ khinh dể ta rằng: Đức Giê-hô-va phán, các ngươi sẽ được bình an. Lại bảo những kẻ bước theo sự cứng cỏi của lòng mình rằng: Chẳng có tai họa nào sẽ đến trên các ngươi hết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Chúng tiếp tục nói với những kẻ khinh thường Ta rằng:‘Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi sẽ được bình an.’Và bảo những kẻ có lòng dạ bướng bỉnh:‘Chẳng có tai họa nào giáng trên các ngươi cả.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Chúng luôn nói với những kẻ khinh bỉ Ta rằng, ‘CHÚA phán, “Anh chị em sẽ được bình an.”’ Còn đối với mọi kẻ đi theo sự tham muốn của lòng mình, chúng bảo, ‘Chẳng có tai họa gì sẽ xảy đến với anh chị em đâu.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

17Chúng tiếp tục nói với những kẻ khinh lờn Ta: ‘CHÚA phán: Các ngươi sẽ sống bình an.’ Chúng nói với mọi người sống theo lòng cứng cỏi mình: ‘Các ngươi sẽ chẳng gặp tai họa đâu.’

Bản Phổ Thông (BPT)

17Chúng nói cùng những kẻ ghét ta rằng:‘CHÚA phán: Các ngươi sẽ bình yên.’Chúng nói cùng những kẻ ương ngạnhvà hành động theo ý riêng rằng:‘Chẳng có điều gì xấu xảy ra cho ngươi đâu.’

New International Version (NIV)

18But which of them has stood in the council of the Lordto see or to hear his word? Who has listened and heard his word?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Vậy ai đã đứng được trong sự bàn luận của Đức Giê-hô-va, để được ngắm xem và nghe lời Ngài? Ai đã suy xét và nghe lời Ngài?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Vậy, ai được đứng trong cuộc họp của Đức Giê-hô-va,Để ngắm xem và nghe lời Ngài?Ai đã chú ý và vâng theo lời Ngài?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Vì ai đã đứng dự trong cuộc nghị luận của CHÚA,Ðể được thấy và nghe lời phán của Ngài?Ai đã chăm chú ghi nhận lời Ngài để công bố ra?

Bản Dịch Mới (NVB)

18Vì ai đã đứng chầu trong hội đồng của CHÚAĐể nghe thấy lời Ngài? Ai đã chú ý nghe để công bố lời Ngài?

Bản Phổ Thông (BPT)

18Nhưng chẳng có nhà tiên tri nào trong vòng chúngđứng trong hội đồng các thiên sứđể thấy hay nghe lời của CHÚA cả.Chẳng ai trong chúng nó để ý đến lời phán của Ngài.

New International Version (NIV)

19See, the storm of the Lordwill burst out in wrath, a whirlwind swirling down on the heads of the wicked.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Nầy, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã phát ra như bão, như gió lốc, nổ trên đầu những kẻ dữ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Nầy, cơn giông bão của Đức Giê-hô-vaTức là cơn thịnh nộ của Ngài đã nổi lên,Cơn giông bão quay cuồng,Xoáy xuống đầu kẻ ác.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Nầy, cơn bão tố của CHÚA đang đến!Cơn thịnh nộ của Ngài đã nổi lên như trận cuồng phong dữ dội;Nó sẽ phủ xuống trên đầu của quân gian ác.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Kìa, trận cuồng phong của CHÚA, Cơn giận Ngài đã bừng lên, Cuồng phong xoáy dữ dội, Xoáy cuộn trên đầu kẻ ác.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Nầy, sự trừng phạt của CHÚA sẽ đến như vũ bão.Cơn thịnh nộ Ngài như cuồng phong.Nó sẽ đến đổ trên đầu những kẻ độc ác đó.

New International Version (NIV)

20The anger of the Lord will not turn back until he fully accomplishes the purposes of his heart. In days to come you will understand it clearly.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Đức Giê-hô-va chưa làm trọn ý đã định trong lòng, thì cơn giận của Ngài sẽ chẳng trở lại. Trong ngày sau rốt, các ngươi sẽ rõ biết sự ấy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Cơn giận của Đức Giê-hô-va sẽ không nguôiCho đến khi Ngài thực thi và hoàn tấtMọi ý định trong lòng Ngài.Trong những ngày cuối cùng,Các ngươi sẽ hiểu rõ điều ấy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Cơn thịnh nộ của CHÚA sẽ không nguôi,Cho đến khi Ngài đã thi hành và hoàn tất những ý định của lòng Ngài.Về sau nầy, các người sẽ hiểu được điều đó.

Bản Dịch Mới (NVB)

20CHÚA sẽ không nguôi giận Cho đến khi nào Ngài thực hiện Hoàn toàn ý định Ngài. Trong những ngày đến, Các ngươi sẽ hiểu tận tường.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Cơn giận Ngài không nguôicho đến khi Ngài hoàn thành điều Ngài định làm.Khi ngày ấy xong rồi,thì các ngươi sẽ hiểu rõ điều nầy.

New International Version (NIV)

21I did not send these prophets, yet they have run with their message; I did not speak to them, yet they have prophesied.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy; ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Ta không sai các kẻ tiên tri nầy đi,Thế mà chúng đã chạy;Ta không phán bảo chúng,Thế mà chúng đã nói tiên tri.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21“Ta không hề sai các tiên tri ấy,Nhưng chúng đã chạy đi rao báo.Ta đã không phán với chúng điều gì,Nhưng chúng đã tự động nói tiên tri.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Ta không sai phái các tiên tri ấy, Thế nhưng chúng vẫn chạy! Ta không phán bảo chúng, Thế mà chúng vẫn nói tiên tri!

Bản Phổ Thông (BPT)

21Ta không sai các nhà tiên tri đó,nhưng chúng tự ý đi rao lời mình.Ta không hề phán cùng chúng,vậy mà chúng vẫn cứ nói tiên tri.

New International Version (NIV)

22But if they had stood in my council, they would have proclaimed my words to my people and would have turned them from their evil ways and from their evil deeds.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Nếu chúng nó có đứng trong sự bàn luận ta, thì đã khiến dân ta nghe lời ta, và đã làm cho dân từ đường dữ việc xấu mà trở lại rồi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Nếu chúng đứng trong cuộc họp của Ta,Thì đã công bố lời Ta cho dân Ta,Giúp dân Ta từ bỏ con đường ác,Và xa lánh những việc làm xấu xa.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Giá mà chúng chịu đứng dự trong cuộc nghị luận của Ta,Chúng có thể công bố những lời Ta cho dân Ta rồi,Và chúng đã có thể giúp dân Ta quay khỏi con đường gian ác,Tức lìa bỏ những việc gian tà của chúng rồi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

22Nếu chúng có đứng trong hội đồng của Ta, Ắt chúng đã rao truyền lời Ta cho dân Ta, Khiến cho dân Ta xây bỏ đường ác, Và việc làm gian trá.”

Bản Phổ Thông (BPT)

22Nếu chúng đã đứng trong hội các thiên sứ,chúng hẳn đã rao sứ điệp ta cho dân ta.Chúng hẳn đã khuyên dân ta quay khỏi lối ác,và khỏi hành động gian tà của mình.”

New International Version (NIV)

23“Am I only a God nearby,” “and not a God far away?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Đức Giê-hô-va phán: “Có phải Ta là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23CHÚA phán, “Ta há chỉ là Ðức Chúa Trời ở gần chứ không phải Ðức Chúa Trời ở xa sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

23CHÚA phán: “Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần, Mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

23CHÚA phán, “Ta là Thượng Đế ở gần,mà cũng là Thượng Đế rất xa.”

New International Version (NIV)

24Who can hide in secret places so that I cannot see them?” “Do not I fill heaven and earth?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Đức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấy chăng? Đức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy các từng trời và đất sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Đức Giê-hô-va lại phán: “Ai có thể ẩn mình trong các nơi bí mật để Ta không thấy được chăng?” Đức Giê-hô-va phán tiếp: “Chẳng phải Ta hiện diện mọi nơi, khắp các tầng trời và đất sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Ai có thể trốn trong những nơi bí mật nào mà Ta không thể thấy được chăng?” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

24CHÚA phán: “Có ai ẩn mình nơi kín đáo Đến nỗi Ta không thấy được sao?” CHÚA phán: “Có phải Ta hiện diện khắp nơi, Đầy dẫy các tầng trời và đất không?

Bản Phổ Thông (BPT)

24“Không ai có thể trốn tránhkhỏi mặt ta được,” CHÚA phán vậy.CHÚA phán, “Ta ở khắp trời đất,”

New International Version (NIV)

25“I have heard what the prophets say who prophesy lies in my name. They say, ‘I had a dream! I had a dream!’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Ta nghe điều những kẻ tiên tri nầy nói, chúng nó nhân danh ta mà nói tiên tri giả dối, rằng: Ta có chiêm bao; thật, ta có chiêm bao!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Ta đã nghe điều mà các kẻ tiên tri nầy nói. Chúng đã nhân danh Ta nói tiên tri giả dối rằng: ‘Tôi thấy chiêm bao! Tôi thấy chiêm bao!’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25“Ta đã nghe rõ những gì các tiên tri đã nhân danh Ta nói tiên tri dối rằng, ‘Tôi có thấy chiêm bao. Tôi có thấy điềm chiêm bao.’

Bản Dịch Mới (NVB)

25Ta có nghe các tiên tri nhân danh Ta nói tiên tri dối gạt: ‘Tôi chiêm bao! Tôi chiêm bao!’

Bản Phổ Thông (BPT)

25“Ta đã nghe các nhà tiên tri nhân danh ta nói dối. Chúng bảo, ‘Tôi thấy chiêm bao! Tôi được báo mộng!’

New International Version (NIV)

26How long will this continue in the hearts of these lying prophets, who prophesy the delusions of their own minds?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Những tiên tri ấy, theo sự dối trá của lòng mình mà nói tiên tri, chúng nó có lòng ấy cho đến chừng nào?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Các kẻ tiên tri nầy còn tiếp tục lấy lòng dối trá mà nói tiên tri giả dối trong bao lâu? Cứ thốt ra những lời lừa mị từ lòng dạ chúng cho đến bao giờ?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Cho đến bao giờ lòng các tiên tri nói tiên tri dối đó, tức những kẻ nói tiên tri theo sự tưởng tượng của lòng chúng, mới quay về với Ta?

Bản Dịch Mới (NVB)

26Điều này tiếp tục trong lòng các tiên tri dối gạt, nói lên sự giả dối của lòng chúng, cho đến khi nào?

Bản Phổ Thông (BPT)

26Chuyện đó còn ở trong đầu của các nhà tiên tri dối trá đó bao lâu nữa? Chúng nói tiên tri do trí tưởng tượng của mình.

New International Version (NIV)

27They think the dreams they tell one another will make my people forget my name, just as their ancestors forgot my name through Baal worship.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Chúng nó mỗi người thuật chiêm bao cùng kẻ lân cận, tưởng sẽ khiến dân quên danh ta cũng như tổ phụ chúng nó vì Ba-anh quên danh ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Bằng cách kể cho nhau nghe các chiêm bao, chúng âm mưu làm cho dân Ta quên danh Ta như tổ phụ chúng đã vì Ba-anh mà quên danh Ta vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Chúng tưởng rằng những giấc chiêm bao chúng kể cho nhau nghe sẽ làm cho dân Ta quên danh Ta, giống như tổ tiên của chúng đã quên hẳn danh Ta mà chỉ nhớ đến Ba-anh thôi sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

27Chúng chủ mưu làm cho dân Ta quên danh Ta qua những chiêm bao chúng kể cho nhau nghe, y như tổ phụ chúng đã quên danh Ta, theo thần Ba-anh.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Chúng tìm cách làm cho dân Giu-đa quên ta bằng cách thuật cho nhau về những điềm chiêm bao đó. Các tổ tiên chúng cũng quên ta như thế và bái lạy Ba-anh.”

New International Version (NIV)

28Let the prophet who has a dream recount the dream, but let the one who has my word speak it faithfully. For what has straw to do with grain?” declares the Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh lời ta, hãy truyền lại lời ta cách trung tín! Đức Giê-hô-va phán: Rơm rạ há xen vào với lúa mì sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Nhà tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật lại chiêm bao ấy đi! Ai đã nhận lãnh lời Ta, hãy trung tín truyền lại lời Ta! Rơm rạ có thể xen vào lúa mì sao?” Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28Hãy để cho tiên tri nào nhận được sứ điệp qua giấc chiêm bao cứ thuật lại giấc chiêm bao, và hãy để cho tiên tri nào nhận được lời Ta cứ rao báo lời Ta cách trung thực. Rơm với lúa có gì giống nhau chăng?” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

28Tiên tri nào có chiêm bao, hãy kể chiêm bao! Tiên tri nào có lời Ta, hãy rao truyền lời Ta cách trung thực!” CHÚA phán: “Rơm có thể nào ví với thóc được không?

Bản Phổ Thông (BPT)

28CHÚA hỏi, “Rơm rạ có giống như lúa mì không? Nếu một nhà tiên tri muốn thuật lại chiêm bao mình thì cứ việc! Nhưng người nghe sứ điệp của ta phải thuật lại cho chân thật!”

New International Version (NIV)

29“Is not my word like fire,” declares the Lord, “and like a hammer that breaks a rock in pieces?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Lời ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29“Lời Ta chẳng phải như lửa, như búa đập vỡ đá sao?” Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29“Lời Ta há chẳng phải như lửa, như búa đập vỡ đá ra từng mảnh sao?” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

29CHÚA phán: Lời Ta há không giống như lửa sao? như búa đập tan đá tảng sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

29CHÚA hỏi, “Lời ta chẳng phải như lửa đốt sao? Sứ điệp của ta chẳng phải như búa đập vỡ đá sao?”

New International Version (NIV)

30“Therefore,” declares the Lord, “I am against the prophets who steal from one another words supposedly from me.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30Vậy nên Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri ăn cắp lẫn nhau về lời của ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta chống lại các kẻ tiên tri ăn cắp lẫn nhau lời của Ta.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30“Vì thế, này,” CHÚA phán, “Ta chống lại các tiên tri ấy, tức những kẻ ăn cắp lẫn nhau những lời Ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

30CHÚA phán: “Này, Ta chống lại các tiên tri ăn cắp lẫn nhau những lời chúng tự xưng là lời Ta.”

Bản Phổ Thông (BPT)

30CHÚA phán, “Cho nên, hãy để ý, ta nghịch lại các nhà tiên tri giả. Chúng cứ đánh cắp lời lẽ của nhau rồi nói rằng đó là lời ta.”

New International Version (NIV)

31Yes,” declares the Lord, “I am against the prophets who wag their own tongues and yet declare, ‘The Lord declares.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Đức Giê-hô-va phán: Nầy ta nghịch cùng những kẻ tiên tri dùng lưỡi mình nói ra, mà rằng: Ngài phán.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta chống lại các kẻ tiên tri dùng lưỡi mình mà nói: ‘Đức Giê-hô-va phán.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31Này,” CHÚA phán, “Ta chống lại các tiên tri ấy, tức những kẻ dùng lưỡi chúng và nói, ‘CHÚA phán.’

Bản Dịch Mới (NVB)

31CHÚA phán: “Này, Ta chống lại các tiên tri dùng lưỡi mình tuyên bố: ‘CHÚA phán.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

31CHÚA phán, “Hãy chú ý đây: Ta nghịch lại các nhà tiên tri giả. Chúng dùng lời mình nói và giả mạo như là lời ta.”

New International Version (NIV)

32Indeed, I am against those who prophesy false dreams,” declares the Lord. “They tell them and lead my people astray with their reckless lies, yet I did not send or appoint them. They do not benefit these people in the least,” declares the Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

32Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ lấy chiêm bao giả dối mà nói tiên tri, thuật lại và lấy lời dối trá khoe khoang mà làm cho dân ta lầm lạc, nhưng ta không sai và cũng không bảo chúng nó; chúng nó cũng không làm ích gì cho dân nầy hết, Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

32Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta chống lại những kẻ dùng chiêm bao giả dối mà nói tiên tri. Chúng kể chiêm bao rồi dùng lời dối trá, khoác lác mà làm cho dân Ta lầm lạc, nhưng Ta không sai phái, cũng chẳng truyền bảo chúng. Chúng chẳng ích lợi gì cho dân nầy cả.” Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

32Này,” CHÚA phán, “Ta chống lại những kẻ nói tiên tri dựa vào những giấc chiêm bao giả dối. Chúng thuật lại những điềm chiêm bao không có thật và làm cho dân Ta đi lạc bằng những lời nói dối và những chuyện phù phiếm của chúng, trong khi Ta không hề sai chúng hoặc chỉ định chúng làm. Bọn ấy thật là vô dụng cho dân nầy,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

32CHÚA phán: “Này, Ta chống lại các tiên tri thuật chiêm bao dối gạt, dẫn dân Ta đi lạc với những lời giả dối khinh xuất, trong khi Ta chẳng sai phái, cũng chẳng truyền bảo chúng.” CHÚA phán: “Thật chúng chẳng giúp ích chi cho dân này.

Bản Phổ Thông (BPT)

32CHÚA phán, “Hãy để ý: ta nghịch lại các nhà tiên tri nói tiên tri về các điềm chiêm bao giả. Chúng dẫn dân ta đi lầm lạc bằng những lời dối trá và bằng sự dạy dỗ giả dối của chúng! Ta không sai hay truyền cho chúng làm gì cho ta cả. Chúng không giúp được gì cho dân Giu-đa hết,” CHÚA phán vậy.

New International Version (NIV)

33“When these people, or a prophet or a priest, ask you, ‘What is the message from the Lord?’ say to them, ‘What message? I will forsake you, declares the Lord.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

33Nếu dân nầy, kẻ tiên tri hay là thầy tế lễ, hỏi ngươi rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì? Khá đáp rằng: Gánh nặng gì? Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ từ bỏ các ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

33“Khi dân nầy, hay một kẻ tiên tri, hoặc một thầy tế lễ, hỏi con rằng: ‘Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì?’ Con hãy trả lời: ‘Chính ngươi là gánh nặng,’ và Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ từ bỏ các ngươi.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

33“Khi dân nầy, hoặc một tiên tri, hoặc một tư tế nào hỏi ngươi, ‘Sứ điệp của CHÚA là gì?’ Ngươi hãy trả lời chúng, ‘Sứ điệp đó chính là các ngươi, và Ta sẽ vứt bỏ các ngươi.” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

33Khi dân này, hoặc tiên tri, hoặc thầy tế lễ, hỏi con: ‘Gánh nặng từ CHÚA là gì?’, con hãy đáp: ‘CHÚA phán: chính các ngươi là gánh nặng. Và Ta sẽ ném các ngươi đi.’

Bản Phổ Thông (BPT)

33“Giả sử có người nào thuộc dân Giu-đa, một nhà tiên tri, hay một thầy tế lễ hỏi ngươi: ‘Nầy Giê-rê-mi, lời CHÚA đè nặng trên ông như thế nào?’ Thì ngươi phải đáp với chúng rằng, ‘Chính các ngươi mới là gánh nặng cho CHÚA, nên Ngài phán, ta sẽ ném các ngươi xuống.’

New International Version (NIV)

34If a prophet or a priest or anyone else claims, ‘This is a message from the Lord,’ I will punish them and their household.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

34Còn như kẻ tiên tri, thầy tế lễ, và dân sẽ nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, --- thì ta sẽ phạt người ấy và nhà nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

34Còn kẻ tiên tri, thầy tế lễ, hay một người dân nào đó nói: ‘Gánh nặng của Đức Giê-hô-va,’ thì Ta sẽ trừng phạt người ấy và nhà nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

34“Còn tiên tri nào, tư tế nào, hay người nào tự ý nói, ‘Sứ điệp của CHÚA,’ Ta sẽ phạt nó và gia đình nó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

34Còn tiên tri, thầy tế lễ, hoặc người dân nào nói: ‘Đây là gánh nặng từ CHÚA,’ Ta sẽ phạt người ấy cùng với cả gia đình.

Bản Phổ Thông (BPT)

34Nếu có một nhà tiên tri, thầy tế lễ hay ai trong dân chúng bảo, ‘Đây là sấm truyền của CHÚA.’ Người ấy nói dối, ta sẽ trừng phạt nó cùng cả nhà nó.

New International Version (NIV)

35This is what each of you keeps saying to your friends and other Israelites: ‘What is the Lord’s answer?’ or ‘What has the Lord spoken?’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

35Vậy, nầy là câu mỗi người khá hỏi kẻ lân cận mình, mỗi người khá hỏi anh em mình rằng: Đức Giê-hô-va đã trả lời làm sao? Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

35Vậy, đây là câu mà mỗi người hỏi người lân cận mình và mỗi người hỏi anh em mình: ‘Đức Giê-hô-va đã trả lời thế nào?’ hay ‘Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

35Vì thế, giữa vòng anh chị em, anh chị em phải hỏi kỹ lẫn nhau, “CHÚA đã đáp lời thế nào?” hay “CHÚA đã phán thế nào?”

Bản Dịch Mới (NVB)

35Đây là điều các ngươi phải hỏi nhau, người này hỏi người kia: ‘CHÚA giải đáp thế nào?’ hoặc ‘CHÚA phán dạy điều gì?’

Bản Phổ Thông (BPT)

35Các ngươi phải hỏi nhau như sau: ‘CHÚA trả lời ra sao?’ hay ‘CHÚA phán thế nào?’

New International Version (NIV)

36But you must not mention ‘a message from the Lord’ again, because each one’s word becomes their own message. So you distort the words of the living God, the Lord Almighty, our God.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

36Bấy giờ chớ nói gánh nặng của Đức Giê-hô-va nữa; vì lời của mỗi một người sẽ là gánh nặng của nó, vì các ngươi đã làm trái những lời của Đức Chúa Trời hằng sống, của Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời chúng ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

36Bấy giờ, các ngươi không được đề cập đến ‘gánh nặng của Đức Giê-hô-va’ nữa; vì lời của người nào sẽ là gánh nặng cho người nấy, vì các ngươi đã xuyên tạc lời của Đức Chúa Trời hằng sống, là Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của chúng ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

36Nhưng anh chị em chớ nói càn, “Sứ điệp của CHÚA,” vì sứ điệp đó chẳng qua là những lời riêng của người đó mà thôi, bởi vì anh chị em đã lạm dụng danh Ngài đến nỗi đã làm cho người ta không còn phân biệt được sứ điệp nào là những lời thật của Ðức Chúa Trời hằng sống, CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của chúng ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

36Nhưng các ngươi không được nhắc đến ‘gánh nặng từ CHÚA nữa’ vì ‘gánh nặng’ ấy chỉ là lời riêng của mỗi các ngươi, và như vậy, các ngươi bóp méo lời của Đức Chúa Trời Hằng Sống, CHÚA Vạn Quân, Đức Chúa Trời của chúng ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

36Nhưng các ngươi sẽ không bao giờ được nói, ‘Đây là sấm truyền của CHÚA,’ vì điều ngươi nói là lời ngươi bịa đặt ra thôi. Ngươi đã giả mạo lời của Thượng Đế Hằng Sống của chúng ta, CHÚA Toàn Năng.

New International Version (NIV)

37This is what you keep saying to a prophet: ‘What is the Lord’s answer to you?’ or ‘What has the Lord spoken?’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

37Vậy ngươi khá hỏi kẻ tiên tri rằng: Đức Giê-hô-va đã trả lời cho ngươi làm sao? Hay là: Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

37Vậy, con hãy hỏi kẻ tiên tri rằng: ‘Đức Giê-hô-va đã trả lời cho ngươi điều gì?’ hay là: ‘Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

37Vậy anh chị em phải hỏi người làm tiên tri, “CHÚA đã trả lời ông thế nào?” hay “CHÚA đã nói gì với ông?”

Bản Dịch Mới (NVB)

37Đây là điều các ngươi phải hỏi tiên tri: ‘CHÚA trả lời ông thế nào?’ hoặc ‘CHÚA phán dạy điều gì?’

Bản Phổ Thông (BPT)

37Ngươi phải bảo các nhà tiên tri như sau: ‘CHÚA đáp thế nào với ngươi?’ hay ‘CHÚA nói thế nào?’

New International Version (NIV)

38Although you claim, ‘This is a message from the Lord,’ this is what the Lord says: You used the words, ‘This is a message from the Lord,’ even though I told you that you must not claim, ‘This is a message from the Lord.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

38Nhưng nếu các ngươi nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, --- bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Vì các ngươi nói lời nầy: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, và ta đã sai đến cùng các ngươi đặng bảo các ngươi rằng: Chớ còn nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

38Nhưng nếu các ngươi nói: ‘Gánh nặng của Đức Giê-hô-va,’ thì Đức Giê-hô-va phán: Vì các ngươi đã nói ‘gánh nặng của Đức Giê-hô-va’ khi mà Ta đã sai người đến và dặn các ngươi không được nói ‘gánh nặng của Đức Giê-hô-va.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

38Nhưng nếu anh chị em cứ nói càn, “Sứ điệp của CHÚA,” thì CHÚA phán thế nầy, “Vì các ngươi đã nói những lời nầy, ‘Sứ điệp của CHÚA,’ trong khi Ta đã sai người đến nói với các ngươi rằng các ngươi không được nói càn, ‘Sứ điệp của CHÚA,’

Bản Dịch Mới (NVB)

38Còn nếu như các ngươi tiếp tục nói: ‘Đây là gánh nặng từ CHÚA,’ thì CHÚA phán như vầy: ‘Vì các ngươi nói lời này: Đây là gánh nặng từ CHÚA,’ trong khi Ta đã sai người đến dạy các ngươi: ‘Đừng nói: Đây là gánh nặng từ CHÚA,’

Bản Phổ Thông (BPT)

38Nhưng không nên nói, ‘Đây là sấm truyền của CHÚA.’ Vì nếu ngươi nói như thế thì CHÚA phán: Vì ngươi nói rằng ‘Đó là sấm truyền của CHÚA,’ mặc dù ta không có bảo ngươi nói những lời ấy,

New International Version (NIV)

39Therefore, I will surely forget you and cast you out of my presence along with the city I gave to you and your ancestors.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

39nhân đó, nầy, ta sẽ quên hẳn các ngươi; ta sẽ bỏ các ngươi, và thành ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi, xa khỏi trước mặt ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

39Cho nên Ta sẽ quên hẳn các ngươi và loại bỏ các ngươi cùng với thành mà Ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi khỏi mặt Ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

39nên Ta sẽ nhấc các ngươi lên và quăng các ngươi ra xa để khuất mặt Ta, tức các ngươi cùng với thành phố Ta đã ban cho các ngươi và cho tổ tiên các ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

39vì thế, này, chắc chắn Ta sẽ nhấc các ngươi lên, và Ta sẽ ném các ngươi luôn với thành Ta ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi xa khỏi mặt Ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

39Cho nên hãy nghe đây: Ta sẽ túm và ném ngươi ra khỏi mặt ta, cùng với Giê-ru-sa-lem mà ta đã ban cho tổ tiên ngươi và cho ngươi.

New International Version (NIV)

40I will bring on you everlasting disgrace—everlasting shame that will not be forgotten.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

40Ta sẽ khiến các ngươi chịu nhơ nhuốc đời đời, hổ thẹn vô cùng, không bao giờ quên được.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

40Ta sẽ khiến các ngươi bị xấu hổ mãi mãi, bị sỉ nhục suốt đời, không bao giờ quên được.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

40Ta sẽ đem nỗi sỉ nhục muôn đời và nỗi tủi hổ trường kỳ, không bao giờ quên, giáng trên các ngươi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

40Và Ta sẽ khiến cho các ngươi chuốc lấy xấu hổ đời đời, nhục nhã mãi mãi, không sao quên được.”

Bản Phổ Thông (BPT)

40Ta sẽ khiến cho ngươi hổ nhục đời đời, sự hổ nhục đó sẽ không bao giờ bị quên lãng.”