So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Ging-Sou(IUMINR)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Ging-Sou (IUMINR)

1Maaih hnoi nor, Ziouv mbuox Aa^mitv^tai nyei dorn, Yonaa,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai như vầy:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Lời của CHÚA phán với Giô-na con trai A-mi-tai rằng,

Bản Dịch Mới (NVB)

1CHÚA phán với Giô-na, con A-mít-tai:

Bản Phổ Thông (BPT)

1Lời CHÚA phán với Giô-na, con trai A-mi-tai như sau:

Ging-Sou (IUMINR)

2“Meih mingh wuov norm domh zingh, Ni^naa^we, mbuox wuov deix mienh ninh mbuo baamz zuiz camv haic. Yie hiuv ninh mbuo zoux nyei waaic sic.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Ngươi khá chỗi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó; vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2“Con hãy trỗi dậy, đi đến thành lớn Ni-ni-ve và tố cáo nó vì tội ác chúng đã lên thấu trước mặt Ta.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2“Hãy đứng dậy, đi đến thành lớn Ni-ni-ve, lớn tiếng rao giảng phản đối nó, vì tội ác nó đã lên thấu trước mặt Ta.”

Bản Dịch Mới (NVB)

2“Con hãy đi ngay đến thành phố Ni-ni-ve to lớn kia, và rao truyền sự đoán phạt dành cho nó, vì tội ác dân trong thành đã lên thấu đến Ta.”

Bản Phổ Thông (BPT)

2“Hãy dậy đi xuống thành lớn Ni-ni-ve, thuyết giảng nghịch lại nó, vì ta thấy nhiều điều ác nó làm.”

Ging-Sou (IUMINR)

3Mv baac Yonaa biaux Ziouv. Ninh cuotv jauv hungx jienv Taansitv Zingh mingh. Mingh taux Yapv^faa Mungv, buatc poux nzangv oix mingh Taansitv Zingh, Yonaa ziouc cuotv nzangv-zinh bieqc nzangv mingh aqv. Ninh hnamv daaih biaux mingh Taansitv Zingh nor, leih ndutv Ziouv aqv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Nhưng Giô-na chỗi dậy đặng trốn qua Ta-rê-si, để lánh khỏi mặt Đức Giê-hô-va. Người xuống đến Gia-phô, gặp một chiếc tàu đi Ta-rê-si. Người trả tiền quá giang, và xuống tàu đặng đi Ta-rê-si với họ, để khỏi mặt Đức Giê-hô-va.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Nhưng Giô-na liền trốn qua Ta-rê-si để tránh mặt Đức Giê-hô-va. Ông xuống đến Gia-phô gặp một chiếc tàu đi qua Ta-rê-si. Giô-na trả tiền quá giang và xuống tàu đi Ta-rê-si với họ để lánh mặt Đức Giê-hô-va.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Nhưng Giô-na đứng dậy bỏ trốn qua Tạt-si để lánh mặt CHÚA. Ông đi xuống Gióp-pa; gặp một chiếc tàu sắp sửa đi Tạt-si, ông trả tiền vé, rồi xuống tàu để đi Tạt-si với họ hầu lánh mặt CHÚA.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Tuy nhiên, Giô-na chuẩn bị trốn qua Tạc-sít để tránh mặt CHÚA. Ông xuống cảng Gia-phô, gặp một chiếc tàu đi Tạc-sít. Ông mua vé, xuống tàu đi Tạc-sít cùng với thủy thủ đoàn, để tránh mặt CHÚA.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Nhưng Giô-na đứng dậy trốn qua Tạt-si để tránh mặt CHÚA. Ông đến Gióp-ba thấy một chiếc thuyền sắp nhổ neo đi Tạt-si. Giô-na trả tiền và lên tàu dự định đi Tạt-si để trốn khỏi mặt CHÚA.

Ging-Sou (IUMINR)

4Mv baac mingh gau, Ziouv zoux bun borngz gorng domh nziaaux-jieqv buonc wuom-laangc mietv ninh mbuo nyei nzangv, nziex nzangv haih huv muonc nzengc aqv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Nhưng Đức Giê-hô-va khiến gió lớn thổi trên biển; trên biển có trận bão lớn, chiếc tàu hầu vỡ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Nhưng Đức Giê-hô-va khiến trận cuồng phong thổi trên biển và một cơn bão lớn xảy ra trên biển làm chiếc tàu gần bị vỡ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Bấy giờ CHÚA sai một trận cuồng phong rất dữ dội thổi trên mặt biển; và trận bão lớn xảy ra khiến chiếc tàu gần vỡ.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Nhưng CHÚA khiến gió thổi mạnh trên biển, gây ra bão táp dữ dội đến nỗi chiếc tàu tưởng chừng như sắp vỡ tan.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Nhưng CHÚA khiến một cơn gió mạnh thổi trên biển, gây nên bão tố dữ dội đến nỗi chiếc thuyền sắp tan tành.

Ging-Sou (IUMINR)

5Nzangv-nouh gamh nziex haic, gorqv-mienh heuc gorqv-mienh nyei zienh tengx. Ninh mbuo yaac oix nzangv heng deix ziouc bouh nzangv tor nyei ga'naaiv guangc.Yonaa aeqv, mingh bueix jienv nzangv-ndoqv m'njormh ndo nyei.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Những thủy thủ đều sợ hãi, ai nấy kêu cầu thần của mình. Đoạn, họ quăng những đồ đạc trong tàu xuống biển, để cho nhẹ tàu. Giô-na đã xuống dưới lòng tàu, nằm và ngủ mê.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Các thủy thủ đều sợ hãi, ai nấy kêu cầu thần của mình. Rồi họ ném đồ đạc trong tàu xuống biển để cho nhẹ tàu. Nhưng Giô-na đã xuống dưới lòng tàu nằm và ngủ mê.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Các thủy thủ đều sợ hãi; ai nấy kêu cầu thần của họ. Sau đó, họ quăng các hàng hóa trong tàu xuống biển để tàu nhẹ bớt. Trong khi ấy Giô-na đã xuống dưới lòng tàu và nằm ngủ mê man.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Các thủy thủ khiếp sợ, ai nấy đều khấn vái thần của mình. Rồi họ quăng hàng hóa trong tàu xuống biển để giảm bớt nguy hiểm cho họ. Trong lúc ấy, Giô-na đã xuống dưới khoang tàu, nằm ngủ say.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Các thủy thủ hoảng sợ, ai nấy đều cầu cứu thần của mình. Họ bắt đầu ném hàng hoá trên tàu xuống biển để làm nhẹ tàu.Còn Giô-na đi xuống bên dưới hầm thuyền ngủ thiếp đi.

Ging-Sou (IUMINR)

6Nzangv-ziouv buatc Yonaa bueix wuov nzangv-ndoqv m'njormh, ninh ziouc gorngv, “Meih fungc bueix naaic m'njormh? Jiez sin daaih heuc meih nyei zienh tengx maah! Nziex ninh haih korv-lienh mbuo, njoux mbuo saah?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Chủ tàu bèn đến gần người và bảo rằng: Hỡi người ngủ kia, làm sao vậy? Khá chờ dậy! Hãy kêu cầu Đức Chúa Trời ngươi. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ tưởng đến chúng ta, thì chúng ta khỏi chết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Thuyền trưởng đến gần ông và bảo: “Ông có thể nằm ngủ được sao? Hãy trỗi dậy! Hãy kêu cầu thần của ông. Có lẽ vị thần ấy sẽ nhớ lại chúng ta thì chúng ta thoát chết.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Bấy giờ vị thuyền trưởng đến gần ông và nói, “Sao ông còn nằm đó mà ngủ? Hãy thức dậy và cầu khẩn thần của ông. Không chừng thần của ông sẽ đoái đến chúng ta, và chúng ta sẽ không bị chết chăng?”

Bản Dịch Mới (NVB)

6Thuyền trưởng đến gần gọi Giô-na: “Anh làm gì mà ngủ say thế kia? Anh hãy thức dậy ngay, khấn vái thần của anh đi. Biết đâu thần của anh sẽ thương xót chúng ta, và cứu chúng ta khỏi chết.”

Bản Phổ Thông (BPT)

6Viên thuyền trưởng đến đánh thức ông dậy nói, “Sao anh ngủ? Hãy dậy kêu cầu thần của anh đi! May ra thần anh sẽ lo tưởng đến chúng ta để chúng ta khỏi chết!”

Ging-Sou (IUMINR)

7Nzangv-nouh, laanh mbuox laanh, “Mbuo oix zuqc dingc maengc mangc gaax, laaix haaix dauh mbuo cingx buangh zuqc ndongc naaiv kouv.” Ninh mbuo ziouc dingc maengc mangc. Ndortv zuqc Yonaa.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Kế đó, chúng nói cùng nhau rằng: Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm, để cho biết tai vạ nầy đến cho chúng ta là vì cớ ai. Vậy họ bắt thăm, và thăm trúng nhằm Giô-na.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Kế đó, các thủy thủ nói với nhau rằng: “Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm để cho biết vì ai mà tai vạ nầy xảy đến cho chúng ta.” Vậy họ bắt thăm và thăm trúng nhằm Giô-na.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Sau đó, họ nói với nhau, “Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm, để biết do ai mà tai vạ nầy xảy đến với chúng ta.” Vậy họ bắt thăm, và thăm trúng nhằm Giô-na.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Các thủy thủ bảo nhau: “Chúng ta hãy bắt thăm xem do ai mà tai họa này xảy đến cho chúng ta.” Họ bắt thăm, và thăm trúng ngay Giô-na.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Họ bảo nhau, “Chúng ta hãy bắt thăm xem ai mang tai họa nầy đến cho chúng ta.”Sau khi họ bắt thăm thì thăm trúng Giô-na.

Ging-Sou (IUMINR)

8Nzangv-nouh gorngv mbuox ninh, “Meih gorngv gaax maah! Mbuo buangh zuqc ndongc naaiv kouv, naaiv laaix haaix dauh? Meih zoux haaix nyungc daaih yiem naaiv laeh? Meih yiem haaix norm guoqv daaih? Meih haaix fingx mienh?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Bấy giờ họ nói cùng người rằng: Khá cho chúng ta biết vì điều chi mà tai vạ nầy đến trên chúng ta. Ngươi làm nghề gì, và từ đâu mà đến? Xứ ngươi ở đâu, ngươi thuộc về dân nào?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Bấy giờ, họ nói với ông: “Hãy cho chúng ta biết vì cớ gì mà tai họa nầy đổ xuống trên chúng ta? Ông làm nghề gì và từ đâu đến? Ông từ nước nào đến? Thuộc về dân nào?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Bấy giờ họ nói với ông, “Hãy nói cho chúng tôi biết vì cớ gì tai vạ nầy xảy đến với chúng ta? Ông làm nghề gì? Ông từ đâu đến? Ông thuộc nước nào? Ông là dân nào?”

Bản Dịch Mới (NVB)

8Họ nói với ông: “Xin anh cho chúng tôi biết: Do ai mà tai họa này xảy đến cho chúng tôi? Anh làm nghề gì? Anh từ đâu đến? Quê anh ở đâu? Anh thuộc dân tộc nào?”

Bản Phổ Thông (BPT)

8Họ liền hỏi ông, “Anh hãy cho chúng ta biết, ai mang tai hoạ nầy đến cho chúng ta đây? Anh làm nghề gì? Anh từ đâu đến? Anh người nước nào? Dân tộc anh là ai?”

Ging-Sou (IUMINR)

9Yonaa dau, “Yie Hipv^lu Mienh. Yie zaangc nyei Ziouv se yiem tin-dorngh nyei Tin-Hungh, yaac dongh zeix ndau zeix koiv wuov dauh.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Người trả lời rằng: Ta là người Hê-bơ-rơ, và ta kính sợ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời trên trời, Ngài đã làm nên biển và đất khô.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ông trả lời: “Tôi là người Hê-bơ-rơ và tôi kính sợ Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên trời, Ngài đã làm nên biển và đất khô.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ông đáp, “Tôi là người Hê-bơ-rơ. Tôi kính sợ CHÚA, Ðức Chúa Trời trên trời. Chính Ngài đã dựng nên biển và đất khô.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Ông đáp: “Tôi là người Hy-bá. Tôi tôn thờ CHÚA, là Đức Chúa trên trời, là Đấng dựng nên biển và đất khô.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Giô-na bảo họ, “Tôi là người Hê-bơ-rơ. Tôi kính sợ CHÚA, Thượng-Đế của các từng trời, Đấng tạo nên biển và đất.”

Ging-Sou (IUMINR)

10Yonaa aengx mbuox ninh mbuo ih zanc ninh biaux Ziouv.Nzangv-nouh gengh gamh nziex haic. Ninh mbuo gorngv, “Meih fungc zoux dorngc ndongc naaic ndo?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Những người ấy cả sợ, và bảo người rằng: Ngươi đã làm việc gì đó? Bấy giờ họ đã biết rằng người trốn khỏi mặt Đức Giê-hô-va; vì người đã khai ra cho họ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Những người trên tàu sợ hãi và hỏi ông: “Ông đã làm chuyện gì vậy?” Bấy giờ, họ biết rằng ông đã trốn khỏi mặt Đức Giê-hô-va vì ông đã khai với họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Những người ấy liền sợ. Họ hỏi ông, “Ông đã làm gì?” Thế là họ biết ông đang tìm cách lánh mặt CHÚA, vì ông đã khai cho họ như vậy.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Các thủy thủ sợ khiếp kinh, hỏi ông: “Anh đã làm gì vậy?” Khi họ biết được là ông đang trốn để tránh mặt CHÚA, vì ông có nói cho họ biết,

Bản Phổ Thông (BPT)

10Mấy người đó đâm hoảng. Họ hỏi Giô-na, “Vậy anh đã làm điều ác gì?” Họ biết ông đang chạy trốn khỏi CHÚA vì ông đã khai thật với họ.

Ging-Sou (IUMINR)

11Nziaaux buonc koiv nyei wuom-laangc gunv zoux gunv hlo. Ninh mbuo naaic gaax Yonaa, “Yie mbuo oix zuqc hnangv haaix nor zoux bun meih, koiv cingx daaih dingh?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Vậy họ nói rằng: Chúng ta sẽ làm gì về ngươi, hầu cho biển yên lặng cho chúng ta? Vì biển càng động thêm mãi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Vậy họ hỏi ông: “Chúng tôi phải làm gì với ông để cho biển yên lặng cho chúng ta?” Vì biển càng lúc càng động dữ dội.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Biển càng lúc càng động dữ dội hơn, nên họ hỏi ông, “Chúng tôi phải làm gì với ông, để biển lặng xuống?”

Bản Dịch Mới (NVB)

11họ hỏi ông: “Chúng tôi phải đối xử với anh như thế nào để biển lặng cho chúng tôi đây?” Vì biển càng động mạnh thêm mãi.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Gió và sóng biển mỗi lúc một mãnh liệt thêm cho nên họ hỏi ông, “Vậy chúng ta phải xử trí với anh ra sao để biển yên lặng cho chúng ta?”

Ging-Sou (IUMINR)

12Yonaa dau, “Meih mbuo zorqv yie zoi njiec naaiv koiv, wuom-laangc ziouc dingh aqv. Yie hiuv duqv laaix yie meih mbuo cingx daaih zuqc naaiv gorng domh nziaaux-jieqv haeqv meih mbuo.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Người trả lời rằng: Hãy bắt lấy ta; hãy ném ta xuống biển, thì biển sẽ yên lặng cho các anh; vì ta biết rằng ấy là vì cớ ta mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Ông trả lời rằng: “Hãy bắt tôi ném xuống biển thì biển sẽ yên lặng cho các anh, vì do chính tôi mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Ông trả lời, “Hãy bắt tôi và quăng tôi xuống biển, biển sẽ yên lặng cho các ông, vì tôi biết rằng ấy là tại tôi mà các ông gặp phải trận bão lớn nầy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

12Giô-na đáp: “Các anh cứ bắt tôi quăng xuống biển, rồi biển sẽ lặng cho các anh, vì tôi biết chính vì tôi mà các anh mắc phải trận bão dữ dội này.”

Bản Phổ Thông (BPT)

12Giô-na bảo họ, “Hãy bắt tôi quăng xuống biển thì biển sẽ yên lặng. Tôi biết lỗi tại tôi mà trận bão nầy xảy đến cho các anh.”

Ging-Sou (IUMINR)

13Nzangv-nouh mbuo maiv muangx, cuotv qaqv biaah nzangv oix cuotv mbienx. Mv baac wuom-laangc gunv zoux gunv hlo, nzangv maiv haih mingh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Những người ấy bắt tay chèo vào bờ; song không được, vì biển càng nổi lên nghịch cùng họ mãi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Tuy nhiên, những người ấy ra sức chèo vào bờ nhưng không được vì biển càng lúc càng nổi lên dữ dội chống lại họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Dầu vậy, những người ấy vẫn cố gắng chèo chiếc tàu vào bờ, nhưng họ không thể nào chèo vào được, vì biển càng lúc càng nổi lên dữ dội hơn.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Tuy nhiên các thủy thủ ra sức cố gắng chèo vào bờ, nhưng không vào được, vì biển càng động mạnh thêm mãi.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Thay vì làm theo lời ông bảo, họ tìm cách chèo thuyền vào đất liền nhưng không được vì biển càng ngày càng dữ dội hơn.

Ging-Sou (IUMINR)

14Ninh mbuo ziouc heuc Ziouv, “O Ziouv aah! Yie mbuo daix naaiv laanh mienh mv baac tov meih maiv dungx bun yie mbuo zuqc mietc. Maiv dungx bun yie mbuo weic maiv zoux dorngc nyei mienh liouc cuotv nyei nziaamv zuqc ndaam-dorng, weic zuqc Ziouv aah! naaiv se meih ei meih ganh nyei hnyouv zoux.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Họ bèn kêu cầu Đức Giê-hô-va mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng tôi nài xin Ngài, chúng tôi nài xin Ngài chớ làm cho chúng tôi chết vì cớ mạng sống của người nầy, và chớ khiến máu vô tội đổ lại trên chúng tôi! Hỡi Đức Giê-hô-va, vì chính Ngài là Đấng đã làm điều mình muốn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Họ kêu cầu với Đức Giê-hô-va rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, chúng tôi nài xin Ngài, xin đừng làm cho chúng tôi chết vì cớ mạng sống của người nầy và đừng khiến máu vô tội đổ lại trên chúng tôi! Lạy Đức Giê-hô-va vì chính Ngài là Đấng đã làm điều mình muốn.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Bấy giờ họ kêu cầu CHÚA, “Lạy CHÚA, chúng con cầu xin Ngài đừng bắt chúng con phải chết, vì Ngài muốn lấy mạng người nầy. Xin đừng vì cớ người nầy làm đổ máu vô tội của chúng con. Lạy CHÚA, vì Ngài có quyền làm bất cứ điều gì Ngài muốn.”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Họ cầu khẩn CHÚA: “Lạy CHÚA, chúng con nài xin Ngài chớ để chúng con chết vì mạng sống của người này. Xin Ngài chớ buộc tội chúng con vì đã giết một người vô tội. Vì lạy CHÚA, chính Ngài đã thực hiện theo ý Ngài muốn.”

Bản Phổ Thông (BPT)

14Cho nên họ kêu cầu cùng CHÚA, “CHÚA ơi, xin đừng để chúng tôi phải chết vì mạng sống người nầy; xin đừng buộc tội chúng tôi vì giết oan một người vô tội. Lạy CHÚA, Ngài đã đưa chuyện nầy đến vì đó là ý muốn của Ngài.”

Ging-Sou (IUMINR)

15Gorngv baac ninh mbuo zorqv Yonaa zoi njiec koiv mingh. Wuom-laangc ziouc liemh zeih dingh mi'aqv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Đoạn họ bắt Giô-na, quăng xuống biển, thì sự giận dữ của biển yên lặng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Sau đó, họ bắt Giô-na ném xuống biển thì cơn giận dữ của biển liền yên lặng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Cuối cùng họ đành bắt Giô-na, quăng ông xuống biển, cơn cuồng nộ của biển liền lắng dịu.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Rồi họ bắt Giô-na quăng xuống biển. Biển liền nguôi cơn giận.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Rồi họ bắt Giô-na quăng xuống biển, biển lập tức yên lặng.

Ging-Sou (IUMINR)

16Naaiv deix mienh buatc, ninh mbuo gengh gamh nziex haic Ziouv. Ninh mbuo ziouc zorqv saeng-kuv ziec bun Ziouv yaac ⟨laengz jiez ngaengc waac.⟩

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Vì vậy mà những người ấy rất kính sợ Đức Giê-hô-va. Họ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, và hứa nguyện cùng Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Vì vậy, những người ấy rất kính sợ Đức Giê-hô-va. Họ dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va và hứa nguyện với Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Bấy giờ những người ấy rất sợ CHÚA; họ dâng của lễ lên Ngài và thệ nguyện với Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Các thủy thủ kính sợ CHÚA vô cùng. Họ dâng sinh tế cho CHÚA và hứa nguyện với Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Họ bắt đầu kính sợ CHÚA vô cùng; họ dâng sinh tế cho CHÚA và hứa nguyện cùng Ngài.

Ging-Sou (IUMINR)

17Ziouv yaac bun dauh domh mbiauz daaih naqv Yonaa. Yonaa yiem domh mbiauz nyei ga'sie buo hnoi buo muonz.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Tuy nhiên CHÚA đã chuẩn bị sẵn một con cá lớn để nuốt Giô-na, và Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Nhưng CHÚA sắm sẵn một con cá lớn nuốt chửng Giô-na. Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.

Bản Phổ Thông (BPT)

17CHÚA đã chuẩn bị một con cá lớn nuốt Giô-na. Ông ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.