So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1Yauxej puag nkaus nws txiv quaj thiab nwj kiag nws txiv lub ntsejmuag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Giô-sép bèn cúi đầu xuống mặt cha mình, hôn người và khóc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Giô-sép cúi xuống mặt cha, vừa hôn vừa khóc.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1 Bấy giờ Giô-sép cúi xuống ôm mặt cha ông, hôn ông cụ, và khóc.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Giô-sép ngã mình trên thi hài cha mà khóc và hôn người.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Sau khi Gia-cốp qua đời, Giô-xép ôm xác cha, hôn và khóc lóc thảm thiết.

Vajtswv Txojlus (HWB)

2Ces Yauxej thiaj hais rau cov kws tshuaj los tu thiab muab tshuaj pleev nws txiv lub cev.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Đoạn, Giô-sép biểu mấy thầy thuốc hầu việc mình, dùng thuốc thơm xông cho xác cha; thầy thuốc bèn xông cho Y-sơ-ra-ên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Giô-sép truyền lệnh cho các thầy thuốc đang phục vụ ông, dùng thuốc thơm ướp xác cha mình, và các thầy thuốc đã ướp xác Y-sơ-ra-ên.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2 Giô-sép truyền cho các y sĩ phục vụ ông tẩm liệm thi thể của cha ông bằng thuốc thơm. Vậy các y sĩ ấy tẩm liệm thi thể của I-sơ-ra-ên.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Rồi Giô-sép ra chỉ thị cho các y sĩ đang phục vụ mình phải ướp thuốc thơm cho xác Y-sơ-ra-ên cha mình; các y sĩ liền ướp thuốc thơm cho thi hài

Bản Phổ Thông (BPT)

2Ông truyền lệnh cho các y sĩ chăm sóc cha mình tẩm liệm xác Ít-ra-en, nên họ thi hành thủ tục tẩm liệm để mai táng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Lawv thiaj muab tshuaj pleev thiab tu ntshis nws txiv lub cev tau plaub caug hnub kom tsis txhob lwj. Cov neeg Iziv tuaj nrog pam thiab quaj nyiav Yakhauj tau xya caum hnub.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Bốn mươi ngày xông thuốc hầu qua, vì ấy là hạn ngày dùng xông thuốc; dân Ê-díp-tô khóc người trong bảy mươi ngày.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Họ phải thực hiện việc nầy trong suốt bốn mươi ngày, vì đó là thời gian cần cho việc ướp xác. Dân Ai Cập để tang Gia-cốp trong bảy mươi ngày.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3 Họ mất bốn mươi ngày mới hoàn tất công việc ấy, vì đó là thời gian cần có để thực hiện công việc tẩm liệm bằng thuốc thơm. Người Ai-cập khóc thương ông bảy mươi ngày.

Bản Dịch Mới (NVB)

3suốt bốn mươi ngày (vì đó là thời hạn ướp thuốc thơm cho xác chết). Dân Ai-cập khóc Gia-cốp bảy mươi ngày.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Các y sĩ mất bốn mươi ngày để tẩm liệm xác Gia-cốp. Đó là thời gian trung bình. Người Ai-cập có tục lệ than khóc Gia-cốp trong bảy mươi ngày.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4Thaum dhau xya caum hnub ntawd lawm, Yauxej hais rau Falaus cov nomtswv hais tias, “Thov nej pab coj kuv cov lus no mus hais rau Falaus hais tias,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Khi mãn tang rồi, Giô-sép bèn nói cùng quần thần Pha-ra-ôn rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt các ngươi, xin hãy thuật lại lời nầy cho Pha-ra-ôn nghe:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Khi những ngày tang chế đã qua, Giô-sép nói với các triều thần Pha-ra-ôn: “Nếu tôi được ơn trước mặt các ông, xin các ông tâu với Pha-ra-ôn như thế nầy:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4 Khi thời kỳ khóc thương ông đã mãn, Giô-sép nói với triều thần Pha-ra-ôn, “Nếu tôi được ơn trước mặt các ngài, xin các ngài tâu với Pha-ra-ôn giúp tôi:

Bản Dịch Mới (NVB)

4Khi các ngày than khóc đã qua, Giô-sép thưa với triều đình Pha-ra-ôn: “Nếu tôi được ơn trước mặt các quan, xin hãy tâu giùm lời này lên Pha-ra-ôn:

Bản Phổ Thông (BPT)

4Sau khi thời kỳ than khóc chấm dứt, Giô-xép bảo các quan cận thần của vua rằng, “Nếu các ông thương tôi thì xin thưa với vua như sau:

Vajtswv Txojlus (HWB)

5‘Thaum uas kuv txiv yuav tuag, nws kom kuv coglus rau nws hais tias, kuv yuav tsum coj nws mus faus rau hauv lub qhov ntxa uas nws twb npaj tseg rau nws nyob pem tebchaws Kana-as lawm. Mas thov Falaus cia kuv coj kuv txiv mus faus tas kuv mam rov qab los.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Cha tôi có biểu tôi thề mà rằng: Nầy, cha sẽ chết, con hãy chôn cha nơi mộ địa ta đã mua sẵn rồi trong xứ Ca-na-an. Vậy bây giờ, tôi phải lên đó chôn cha tôi, rồi sẽ trở xuống.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Cha tôi đã bắt tôi thề rằng: ‘Nầy, cha sắp chết. Con hãy chôn cha trong phần mộ mà cha đã đục sẵn ở Ca-na-an.’ Vậy bây giờ, xin cho tôi lên đó chôn cha tôi, rồi tôi sẽ trở lại.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5 Cha tôi có bắt tôi thề rằng, ‘Nầy cha sắp qua đời. Con hãy chôn cha trong ngôi mộ mà cha đã đục sẵn cho cha trong xứ Ca-na-an.’ Vậy bây giờ xin cho tôi đi lên đó để chôn cha tôi, rồi tôi sẽ trở lại.”

Bản Dịch Mới (NVB)

5Thân phụ tôi có bảo tôi thề: Ta sắp qua đời; con hãy chôn ta trong ngôi mộ ta đào sẵn ở xứ Ca-na-an. Bây giờ xin cho phép tôi lên xứ ấy để chôn cha tôi rồi tôi sẽ trở về.”

Bản Phổ Thông (BPT)

5‘Khi cha tôi gần qua đời, tôi có hứa với người rằng tôi sẽ mai táng người trong hang nơi đất Ca-na-an, chỗ an táng mà người đã chuẩn bị sẵn cho mình. Vì thế xin cho phép tôi đi mai táng cha tôi rồi sẽ trở về.’”

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Falaus teb hais tias, “Koj cia li coj koj txiv mus faus, raws li koj tau coglus tseg rau nws lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Hãy trở lên chôn cha ngươi, y như lời người đã bắt thề đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Pha-ra-ôn bảo: “Ngươi hãy lên chôn cha ngươi như lời cụ đã bắt ngươi thề.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6 Pha-ra-ôn đáp, “Hãy đi lên đó, chôn cha ngươi, như người đã bắt ngươi thề.”

Bản Dịch Mới (NVB)

6Pha-ra-ôn bảo: “Ngươi cứ đi lên chôn cha ngươi như lời người đã bảo ngươi thề đó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

6Vua đáp, “Ngươi hãy giữ lời hứa của mình. Đi mai táng cha ngươi đi.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Ces Yauxej thiaj coj nws txiv mus faus. Tagnrho Falaus cov nomtswv, cov laus neeg uas tu plaub ntug thiab cov thawjcoj hauv tebchaws Iziv puavleej nrog Yauxej mus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Giô-sép dời xác cha mình trở lên chôn; quần thần Pha-ra-ôn, các bực trưởng lão trong đền, các bực trưởng lão trong xứ Ê-díp-tô,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Vậy, Giô-sép lên Ca-na-an để an táng cha. Cùng đi với ông có tất cả các triều thần Pha-ra-ôn, các trưởng lão trong triều, các trưởng lão trong xứ Ai Cập,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7 Vậy Giô-sép đi lên, chôn cha ông. Toàn thể triều thần của Pha-ra-ôn, tức các đại quan trong triều, và tất cả các trưởng lão trong nước Ai-cập đi lên với ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Vậy Giô-sép đi lên chôn cha mình. Tất cả triều thần của Pha-ra-ôn cũng đi theo, các quan lớn trong triều và các nhân sĩ Ai-cập,

Bản Phổ Thông (BPT)

7Nên Giô-xép đi mai táng cha mình. Tất cả các quan võ, các quần thần và các nhà lãnh đạo của Ai-cập đều cùng đi với Giô-xép.

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Yauxej tsev neeg, nws cov tijlaug tsevneeg thiab nws txiv tsevneeg puavleej nrog nws coj nws txiv lub cev mus faus. Tsuas tseg lawv tej menyuam, tej yaj, tej tshis thiab tej nyuj nyob hauv cheebtsam Nkausees xwb.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8hết thảy nội nhà Giô-sép, các anh em và nội nhà cha mình đều đi lên theo đưa với người; trong Gô-sen chỉ còn những đứa trẻ và chiên, cùng bò của họ mà thôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8cũng như tất cả người nhà, các anh em và những thân quyến của cha ông. Trong đất Gô-sen chỉ còn lại trẻ con và chiên, bò của họ mà thôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8 Cùng đi theo có mọi người trong gia đình của Giô-sép, các anh em ông, và gia đình cha ông. Chỉ có các trẻ con, các đàn chiên, và các đàn bò còn ở lại trong xứ Gô-sen.

Bản Dịch Mới (NVB)

8toàn thể gia đình Giô-sép và các anh em người và gia nhân quyến thuộc của nhà cha mình trong khắp xứ Gô-sen, chỉ còn trẻ con với các bầy bò, bầy chiên ở lại mà thôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Tất cả mọi người trong nhà Giô-xép, các anh em ông và những người trong gia đình cha ông đều đi cùng Giô-xép. Họ chỉ để lại các con nhỏ, các bầy gia súc trong đất Gô-sen.

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Cov neeg uas caij tsheb nees thiab cov tubrog caij nees nrog Yauxej lawv mus coob kawg li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Lại cũng có đem ngựa và xe theo lên nữa: thật là một đám xác rất đông thay!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ngoài ra còn có chiến xa và kỵ binh hộ tống. Thật là một đoàn người rất đông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9 Ngoài ra cũng có các xe chiến mã và các kỵ binh đi theo hộ tống. Thật là một đoàn người đông đảo.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Công xa và các đội kỵ binh cũng cùng đi theo Giô-sép. Thật là một đoàn người rất đông đảo.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Họ đi với Giô-xép bằng xe và ngựa. Toán đi rất đông.

Vajtswv Txojlus (HWB)

10Thaum lawv mus txog ntawm lub tshav ntaus nplej Atas uas nyob sab hnubtuaj ntawm tus Dej Yauladees, lawv sawvdaws quaj nyiav, thiab pam Yauxej txiv raws li kevcai tau xya hnub.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Khi đến sân đạp lúa của A-tát, ở bên kia sông Giô-đanh, thì họ làm lễ khóc than rất nên trọng thể tại đó; đoạn, Giô-sép để tang cha trong bảy ngày.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Khi đến sân đập lúa của A-tát, ở phía đông sông Giô-đanh, họ cử hành một tang lễ rất long trọng và xúc động. Giô-sép để tang cha trong bảy ngày.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10 Khi họ đến sân đập lúa của A-tát ở bên kia Sông Giô-đanh, họ cử hành tang lễ rất trọng thể và than khóc cách bi ai. Giô-sép để tang cho cha ông bảy ngày tại đó.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Khi đến sân đạp lúa của A-tát, gần sông Giô-đanh, họ lớn tiếng kêu la và khóc than cay đắng. Tại đây Giô-sép cử hành tang lễ cho cha mình suốt bảy ngày.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Khi đến sân đập lúa của Go-ren A-tát, gần sông Giô-đanh thì họ kêu khóc cho cha của Giô-xép rất thảm thiết. Thời kỳ than khóc của Giô-xép kéo dài bảy ngày.

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Thaum cov neeg Kana-as pom cov neeg no tuaj quaj nyiav ntawm lub tshav ntaus nplej Atas, lawv hais tias, “Cov neeg Iziv lub ntees tuag no, yog lub niam ntees uas loj kawg li!” Twb yog vim li no thiaj tis npe rau thaj chaw ntawd hu ua Anpees Mixalayees.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Dân Ca-na-an, tức là dân xứ ấy, thấy khóc than nơi sân đạp lúa A-tát, thì nói rằng: Ấy là một đám khóc than trọng thể của dân Ê-díp-tô đó! Bởi cớ ấy người ta gọi cái sân nầy tên là A-bên-Mích-ra-im ở bên kia sông Giô-đanh.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Dân địa phương, tức là người Ca-na-an thấy đám tang trong sân đập lúa A-tát, thì nói: “Đây là một đám tang long trọng của người Ai Cập.” Vì vậy người ta gọi nơi nầy là A-bên Mích-ra-im, ở phía đông sông Giô-đanh.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11 Khi người Ca-na-an trong xứ thấy tang lễ trọng thể nơi sân đập lúa của A-tát, họ bảo nhau, “Ðó là một tang lễ thật trọng thể của người Ai-cập.” Vì vậy nơi ấy được gọi là A-bên Ai-cập, một nơi ở bên kia Sông Giô-đanh.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Dân Ca-na-an, tức là người bản xứ, thấy tang lễ tại sân đạp lúa của A-tát thì nói: “Người Ai-cập cử hành tang lễ thật long trọng.” Vì thế người ta gọi địa điểm này gần bên sông Giô-đanh là A-bên-Mích-ra-im.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Những người Ca-na-an thấy cảnh bi thảm ở sân đập lúa của A-tát thì bảo nhau, “Những người Ai-cập than khóc thật bi thảm!” Cho nên ngày nay người ta gọi chỗ đó là A-bên-mi-ra-im.

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Yakhauj cov tub tau ua raws li uas Yakhauj tau hais tseg rau lawv lawm,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Vậy, các con trai Gia-cốp làm theo lời cha trối lại,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Vậy, các con trai Gia-cốp đã làm theo lời trăn trối của cha.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12 Như vậy các con trai của Gia-cốp đã làm cho cụ những gì cụ dặn bảo.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Các con trai Gia-cốp làm theo điều cha mình truyền bảo:

Bản Phổ Thông (BPT)

12Các con của Gia-cốp làm y theo lời trối của cha mình.

Vajtswv Txojlus (HWB)

13lawv thiaj kwv lawv txiv mus pem tebchaws Kana-as, thiab muab faus rau hauv lub qhovtsua uas nyob hauv Makhepelas hauv thaj teb uas nyob ntawm Males sab hnubtuaj uas Anplahas yuav ntawm Efaloos uas yog neeg Hitis los cia ua chaw faus tuag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13dời xác người về xứ Ca-na-an, chôn trong hang đá của đồng Mặc-bê-la ngang Mam-rê, mà Áp-ra-ham đã mua luôn với đồng ruộng Ép-rôn, người Hê-tít, để dùng làm mộ địa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Họ đưa ông về xứ Ca-na-an, chôn trong hang đá ở cánh đồng Mặc-bê-la, gần Mam-rê, mà Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm nơi an táng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13 Họ đưa thi hài cụ về xứ Ca-na-an và chôn cụ trong cánh đồng Mạch-pê-la, là cánh đồng gần Mam-rê mà Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn người Hít-ti để dùng làm nghĩa địa.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Họ đưa thi hài người về xứ Ca-na-an và an táng người trong hang đá tại cánh đồng Mặc-bê-la gần Mam-rê. Áp-ra-ham đã mua hang đá ấy luôn với cánh đồng của Hếp-rôn, người Hê-tít làm mộ địa.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Họ mang xác ông về đất Ca-na-an và mai táng trong hang nơi đồng ruộng Mặc-bê-la gần Mam-rê. Áp-ra-ham đã mua hang và ruộng đó từ Ép-rôn, người Hê-tít để dùng làm nơi mai táng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

14Tom qab uas Yauxej muab nws txiv faus tas lawm, nws nrog nws cov tijlaug thiab cov neeg uas nrog nws mus ntawd, rov qab los rau nram tebchaws Iziv lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Chôn cha xong rồi, Giô-sép cùng các anh em và các người đi lên theo đưa xác cha, đều trở xuống xứ Ê-díp-tô.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Sau khi chôn cất cha, Giô-sép và các anh em cùng những người đưa tang trở về Ai Cập.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14 Sau khi đã chôn cha ông ở đó, Giô-sép trở về Ai-cập, ông và các anh em ông, cùng tất cả những người đã đi lên với ông để chôn cha ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Sau khi an táng cha mình, Giô-sép quay về Ai-cập với các anh em và tất cả những người đã theo ông dự tang lễ.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Sau khi chôn cất cha xong, Giô-xép trở về Ai-cập cùng với các anh em mình và những người đi theo dự lễ mai táng cha ông.

Vajtswv Txojlus (HWB)

15Tom qab uas lawv txiv tuag lawm, Yauxej cov tijlaug hais tias, “Peb yuav ua li cas, yog Yauxej tseem ntxub peb thiab ua phem pauj tej kev phem uas peb tau ua rau nws lawm?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Các anh Giô-sép thấy cha mình chết rồi, thì nói với nhau rằng: Có lẽ Giô-sép sẽ ganh ghét chúng ta, và trả thù việc ác chúng ta đã làm cho người chăng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Các anh Giô-sép thấy cha mình chết thì nói với nhau: “Nếu Giô-sép còn giữ lòng thù hận và báo thù chúng ta về những việc ác mà chúng ta đã làm cho nó thì sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15 Khi các anh của Giô-sép thấy cha họ đã qua đời, họ nói với nhau, “Biết đâu Giô-sép vẫn còn để bụng hận chúng ta và sẽ trả thù chúng ta về mọi việc ác chúng ta đã làm cho nó?”

Bản Dịch Mới (NVB)

15Các anh của Giô-sép thấy cha mình đã mất thì nói: “Nếu Giô-sép giữ mối căm hờn và báo trả chúng ta về các việc ác chúng ta đã làm cho nó thì sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

15Sau khi Gia-cốp qua đời, các anh em Giô-xép bảo nhau, “Lỡ Giô-xép vẫn còn tức giận mình thì sao? Mình đối xử tệ bạc với nó. Nó dám trả thù mình lắm.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

16Yog li ntawd, lawv thiaj tso neeg mus hais rau Yauxej li no tias, “Ua ntej uas peb txiv tuag,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Các anh bèn sai người đến nói cùng Giô-sép rằng: Trước khi qua đời, cha em có trối rằng:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Họ sai người đến nói với Giô-sép: “Trước khi qua đời, cha em có truyền dặn rằng:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16 Vậy họ đến với Giô-sép và nói, “Trước khi qua đời, cha em đã căn dặn điều nầy,

Bản Dịch Mới (NVB)

16Họ sai người thưa với Giô-sép: “Trước khi qua đời cha có ra chỉ thị này:

Bản Phổ Thông (BPT)

16Cho nên họ nhắn với Giô-xép như sau, “Trước khi mất, cha có trối như thế nầy:

Vajtswv Txojlus (HWB)

17nws hais kom peb tuaj hais rau koj hais tias, ‘Thov koj zam koj cov tijlaug tej kev txhaum uas thaud lawv tau ua rau koj lawm.’ Mas nimno thov koj zam txim rau peb cov uas yog koj txiv tus Vajtswv cov tubtxib thiab tej uas peb tau ua tas los lawm.” Yauxej quaj heev thaum nws hnov dheev tej lus no.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Hãy nói lại cho Giô-sép như vầy: Ôi! xin hãy tha điều ác, tội phạm của các anh con đi, vì chúng nó đã lỗi cùng con đó; nhưng bây giờ cha xin con hãy tha tội kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời cha. Nghe qua mấy lời nầy, Giô-sép bèn khóc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17‘Các con hãy nói với Giô-sép thế nầy: Xin con hãy tha thứ lỗi lầm và điều ác mà các anh con đã phạm khi muốn làm hại con.’ Vậy, bây giờ xin em hãy tha tội cho các đầy tớ của Đức Chúa Trời của cha.” Khi nghe những lời nầy, Giô-sép khóc.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17 ‘Hãy nói với Giô-sép, “Cha xin con tha thứ những tội ác và những điều sai trái các anh con đã đối với con.”’ Vậy bây giờ xin em tha thứ những tội lỗi cho các đầy tớ của Ðức Chúa Trời của cha em.” Khi nghe họ nói như thế, Giô-sép bật khóc.

Bản Dịch Mới (NVB)

17‘Các con hãy nói với Giô-sép: Cha xin con hãy tha thứ tội ác của các anh con và những tội họ đã phạm khi đối xử tàn tệ với con. Bây giờ xin con hãy tha thứ tội lỗi cho các đầy tớ Đức Chúa Trời của cha.’ ” Nghe lời ấy Giô-sép khóc.

Bản Phổ Thông (BPT)

17‘Các anh con có lỗi và đối xử tệ bạc với con. Con hãy tha thứ cho chúng nó, tức các anh con. Chúng nó là tôi tớ của Thượng Đế của cha con.’”Khi Giô-xép nghe như thế thì ông bật khóc.

Vajtswv Txojlus (HWB)

18Ces Yauxej cov tijlaug txawm ua ke tuaj cuag Yauxej thiab qhau cev hlo ntawm nws xubntiag pe nws. Lawv hais tias, “Peb sawvdaws yog koj cov tubtxib.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Chánh các anh người đến sấp mình xuống dưới chân mà nói rằng: Các anh đây thật là kẻ tôi tớ của em đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Các anh của ông đích thân đến quỳ trước mặt ông và nói: “Nầy, các anh chỉ là nô lệ của em.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18 Các anh ông cũng khóc. Họ sấp mình xuống trước mặt ông và nói, “Này, các anh sẵn sàng làm nô lệ cho em.”

Bản Dịch Mới (NVB)

18Lúc ấy các anh Giô-sép cũng đến quỳ mọp trước mặt người mà nói: “Các anh đây là nô lệ của em đó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

18Các anh em đến cùng Giô-xép, cúi lạy trước mặt ông và bảo, “Các anh đây là nô lệ của em.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

19Yauxej hais rau lawv hais tias, “Nej tsis txhob ntshai, kuv tsis muaj cuabkav tsav kuv lub hwjchim kom loj dua Vajtswv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Giô-sép nói với họ: “Các anh đừng sợ! Tôi thay thế cho Đức Chúa Trời được sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19 Nhưng Giô-sép đáp với họ, “Các anh đừng sợ! Bộ tôi dám thay quyền Ðức Chúa Trời sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

19Nhưng Giô-sép đáp: “Xin các anh đừng sợ. Tôi đâu dám thay thế Đức Chúa Trời!

Bản Phổ Thông (BPT)

19Giô-xép bảo họ, “Xin các anh đừng sợ. Em đâu có quyền thay Thượng Đế?

Vajtswv Txojlus (HWB)

20Nej tau tuavhauv ua phem rau kuv lawm tiag, tiamsis Vajtswv tau muab qhov phem ntawm hloov ua qhov zoo, ua li ntawd thiaj cawm tau coob leej txojsia, ib yam li nej pom hnub no ntag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Các anh định hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại định cho nó thành điều lành để thực hiện việc đang xảy ra hôm nay, tức là bảo tồn sự sống cho bao nhiêu người.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20 Mặc dù các anh đã có ý hại tôi, nhưng Ðức Chúa Trời đã biến việc ấy thành điều tốt cho tôi, để nhờ đó có thể bảo tồn mạng sống của nhiều người như Ngài đã làm ngày nay.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Các anh có ý làm hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại dụng ý làm điều ích lợi để hoàn thành mọi việc đã qua tức là cứu mạng sống của nhiều người.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Các anh định hại em, nhưng Thượng Đế đã biến điều ác của các anh thành điều thiện để cứu mạng sống nhiều người, là điều đang được thực hiện.

Vajtswv Txojlus (HWB)

21Nej cov ua tij tsis txhob ntshai. Kuv yuav ua tus saib xyuas nej thiab nej tej menyuam.” Yog li ntawd, Yauxej thiaj ntuas lawv ntawm lub siab dawb paug thiab ua rau lawv kaj siab ua neej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Vậy, đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh. Đoạn, Giô-sép an ủi các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Vậy, xin các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh.” Giô-sép an ủi các anh, dùng lời lẽ êm dịu mà nói chuyện với họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21 Vậy xin các anh đừng sợ. Chính tôi sẽ cung cấp cho các anh và cho con cái các anh.” Ông dùng cách ấy làm cho họ an lòng, rồi ông chuyện trò thân mật với họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Vậy xin các anh đừng sợ. Tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh.” Giô-sép trấn an các anh và nói chuyện dịu dàng với họ.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Cho nên các anh đừng sợ. Em sẽ chăm sóc các anh và con cái các anh.” Giô-xép an ủi các anh em mình và dùng lời lẽ ôn hòa nói với họ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

22Yauxej ua neej nrog nws txiv tsevneeg nyob hauv tebchaws Iziv, Yauxej muaj hnubnyoog ib puas kaum xyoo nws mam li tuag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Giô-sép cùng nhà cha mình kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô; người hưởng thọ được một trăm mười tuổi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Giô-sép và gia đình cha của ông sinh sống ở Ai Cập. Giô-sép sống được một trăm mười tuổi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22 Vậy Giô-sép đã ở tại Ai-cập, ông và gia đình của cha ông. Giô-sép hưởng thọ một trăm mười tuổi.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Giô-sép cùng gia đình mình cư trú tại nước Ai-cập. Người hưởng thọ một trăm mười tuổi.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Giô-xép tiếp tục sống trong xứ Ai-cập cùng với gia đình của cha mình. Ông qua đời khi được 110 tuổi.

Vajtswv Txojlus (HWB)

23Nws ua neej nyob txog thaum nws pom Efalayees cov menyuam thiab cov xeebntxwv huv tibsi. Thiab nws tseem nyob mus txog thaum uas nws pom Manaxes tus tub Makhiles cov menyuam lawm thiab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Người thấy được các con cháu Ép-ra-im đến đời thứ ba, và cũng có được nâng niu trên gối mình các con của Ma-ki, tức con trai của Ma-na-se, nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Ông được thấy con cháu Ép-ra-im đến đời thứ ba, và cả các con của Ma-ki, con của Ma-na-se, cũng được sinh ra trên đầu gối Giô-sép.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23 Ông thấy được con cháu của Ép-ra-im đến thế hệ thứ ba. Các con của Ma-khia con trai Ma-na-se được ông nâng niu trên đầu gối ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

23Thấy được con cháu Ép-ra-im đến đời thứ ba, và nâng niu trên đầu gối mình các con của Ma-ki (Con trai Ma-na-se) khi chúng mới sinh ra.

Bản Phổ Thông (BPT)

23Trong khi Giô-xép còn sống, Ép-ra-im sinh con cháu, và Ma-na-xe, con của Giô-xép cũng có một con trai tên Ma-kia. Giô-xép sống lâu và thấy được con cái của Ma-kia.

Vajtswv Txojlus (HWB)

24Nws hais rau nws cov kwvtij hais tias, “Tshuav tsis ntev kuv twb yuav tuag, tiamsis Vajtswv yuav ua tus tsomkwm nej thiab coj nej tawm hauv lub tebchaws no mus rau pem lub tebchaws uas nws tau coglus tseg hais tias, nws yuav muab pub rau Anplahas, Ixaj thiab Yakhauj lawv.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Kế, Giô-sép nói cùng các anh em rằng: Em sẽ chết, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Giô-sép nói với các anh em: “Tôi sắp qua đời, nhưng chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ thăm viếng anh em, đem anh em ra khỏi xứ nầy để trở về xứ mà Ngài đã thề hứa với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24 Sau đó Giô-sép nói với anh em ông, “Tôi sắp sửa qua đời, nhưng Ðức Chúa Trời sẽ viếng thăm anh em, và sẽ đem anh em lên khỏi xứ nầy để về xứ Ngài đã thề với Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp.”

Bản Dịch Mới (NVB)

24Giô-sép bầy tỏ cho các anh em: “Tôi sắp qua đời, nhưng chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ đến cứu giúp các anh em và đưa các anh em ra khỏi xứ này để quay về xứ mà Ngài đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.”

Bản Phổ Thông (BPT)

24Giô-xép trối cùng các anh em mình rằng, “Em sắp qua đời nhưng Thượng Đế sẽ chăm sóc các anh em. Ngài sẽ dẫn anh em ra khỏi xứ nầy để về xứ mà Ngài hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

25Ces Yauxej hais kom cov Yixalayees coglus rau nws hais tias, “Nej coglus tseg rau kuv, yog thaum twg Vajtswv coj nej mus pem tebchaws Kana-as, nej yuav tsum nqa kuv cov pobtxha nrog nej mus thiab.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Giô-sép biểu các con trai của Y-sơ-ra-ên thề mà rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em; xin anh em hãy dời hài cốt tôi khỏi xứ nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Giô-sép bắt con cháu Y-sơ-ra-ên thề rằng: “Khi Đức Chúa Trời thực sự thăm viếng anh em, thì anh em sẽ đưa hài cốt của tôi ra khỏi xứ nầy.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25 Vậy Giô-sép bắt người I-sơ-ra-ên thề rằng, “Khi nào Ðức Chúa Trời viếng thăm anh em, anh em sẽ mang hài cốt tôi lên theo khi ra khỏi xứ nầy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

25Giô-sép bảo các con trai Y-sơ-ra-ên thề rằng: “Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ đến cứu giúp anh em; lúc ấy anh em phải dời hài cốt tôi ra khỏi nơi này.”

Bản Phổ Thông (BPT)

25Rồi Giô-xép bắt các con trai của Ít-ra-en cam kết. Ông bảo, “Các anh phải hứa sẽ mang hài cốt em ra khỏi Ai-cập.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

26Yauxej tuag hauv tebchaws Iziv, thaum nws muaj hnubnyoog ib puas kaum xyoo. Lawv muab tshuaj pleev nws lub cev thiab muab tso rau hauv hleb tseg.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Đoạn, Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta xông thuốc thơm cho xác Giô-sép, và liệm trong một cái quan tài tại xứ Ê-díp-tô.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Vậy Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta dùng thuốc thơm ướp xác Giô-sép, và liệm trong một quan tài tại Ai Cập.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26 Ðoạn Giô-sép qua đời, hưởng thọ một trăm mười tuổi. Thi thể ông được tẩm liệm bằng thuốc thơm và được đặt trong một quan tài tại Ai-cập.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Vậy, Giô-sép qua đời lúc được một trăm mười tuổi. Người ta lấy thuốc thơm ướp xác người rồi liệm trong một chiếc quan tài tại Ai-cập.

Bản Phổ Thông (BPT)

26Giô-xép qua đời khi được một trăm mười tuổi. Các y sĩ tẩm liệm xác ông để chôn cất. Họ đặt xác ông vào một quan tài trong xứ Ai-cập.