So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vaajtswv Txujlug(HMOBSV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

1Xyoo ob kws Nenpukhanexa ua vaajntxwv kaav, Nenpukhanexa txawm ua npau suav mas nwg ntxhuv sab heev pw tsw tsaug zug.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Trong năm thứ hai đời vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua thấy chiêm bao, thì trong lòng bối rối và mất giấc ngủ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Trong năm thứ nhì của triều đại Nê-bu-cát-nê-xa, Nê-bu-cát-nê-xa nằm mơ và thấy các điềm chiêm bao. Các điềm chiêm bao ấy đã làm cho tâm thần vua rối loạn, và vua bị mất ngủ.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Năm thứ hai triều vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua thấy chiêm bao khiến tinh thần vua bối rối đến nỗi mất giấc ngủ.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Vào năm thứ nhì triều đại Nê-bu-cát-nết-xa, vua thấy một giấc mộng khiến vua bực dọc và thao thức suốt đêm.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

2Vaajntxwv txhad has kuas hu cov txwv neeb txwv yaig hab tej kws txawj ua khawv koob hab cov kws txawj saib caij saib nyoog hab cov Kheentia tuaj txhais vaajntxwv tej npau suav rua nwg. Puab txawm nkaag lug sawv ntsug rua ntawm vaajntxwv xubndag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Vậy, vua truyền đòi các đồng bóng, thuật sĩ, thầy bói, và người Canh-đê để cắt nghĩa chiêm bao cho vua. Họ bèn đến chầu trước mặt vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Vì thế vua truyền triệu tập các pháp sư, các bốc sư, các phù thủy, và các chiêm tinh gia đến để giải nghĩa điềm chiêm bao cho vua. Vậy những người ấy đến và đứng chầu trước mặt vua.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Vì thế, vua ra lệnh triệu tập các pháp sư, thuật sĩ, thầy phù thủy, và người Canh-đê, để họ thuật lại cho vua nghe chiêm bao của vua. Khi họ đến chầu trước mặt vua,

Bản Phổ Thông (BPT)

2Nên vua gọi các nhà tướng số, thuật sĩ, phù thủy, và các người thông thái đến giải thích chiêm bao cho mình. Tất cả đến trình diện trước mặt vua.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

3Mas vaajntxwv has rua puab tas, “Kuv tau ua npau suav mas kuv ntxhuv sab kawg xaav paub zaaj npau suav lub ntsab.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Vua nói cùng họ rằng: Ta đã thấy một chiêm bao; và lòng ta bối rối, muốn biết chiêm bao đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Vua phán với họ, “Ta đã thấy một điềm chiêm bao, và tâm thần ta bối rối vì muốn biết ý nghĩa của điềm chiêm bao ấy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

3vua phán: “Ta thấy chiêm bao, và tinh thần ta bối rối muốn biết chiêm bao ấy có nghĩa gì.”

Bản Phổ Thông (BPT)

3Rồi vua bảo, “Ta có một chiêm bao làm ta băn khoăn lắm. Ta muốn biết ý nghĩa của nó.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

4Cov Kheentia txhad has rua vaajntxwv tas, “Au vaajntxwv, thov koj muaj txujsa nyob moog ib txhws. Thov koj pav koj zaaj npau suav rua peb kws yog koj cov qhev noog, mas peb yuav txhais lub ntsab rua koj.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Những người Canh-đê nói cùng vua bằng tiếng A-ram rằng: Tâu vua, chúc vua sống đời đời! Xin thuật chiêm bao cho những kẻ tôi tớ vua, và chúng tôi sẽ giải nghĩa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Các chiêm tinh gia tâu với vua bằng tiếng A-ram, “Tâu hoàng thượng, kính chúc hoàng thượng sống vạn tuế. Xin hoàng thượng kể lại cho chúng thần điềm chiêm bao hoàng thượng đã thấy, chúng thần sẽ giải thích ý nghĩa của nó cho hoàng thượng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

4Những người Canh-đê tâu bằng tiếng A-ram: “Hoàng đế vạn tuế! Xin bệ hạ thuật lại chiêm bao rồi chúng tôi sẽ giải thích ý nghĩa.”

Bản Phổ Thông (BPT)

4Các nhà thông thái thưa với vua bằng tiếng A-ram, “Thưa vua vạn tuế! Xin thuật lại cho chúng tôi, kẻ tôi tớ vua điềm chiêm bao đó rồi chúng tôi sẽ giải thích ý nghĩa của nó.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

5Vaajntxwv teb cov Kheentia tas, “Kuv yeej has tu nrho tas, yog mej tsw pav zaaj npau suav hab txhais lub ntsab rua kuv, mej tej teg taw yuav raug muab dua tu pov tseg, hab mej tej tsev yuav raug muab rhuav pob taag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Vua trả lời cho những người Canh-đê rằng: Sự ấy đã ra khỏi ta. Nếu các ngươi không nói cho ta biết chiêm bao đó thể nào và lời giải nó làm sao, thì các ngươi sẽ bị phân thây, nhà các ngươi sẽ trở nên đống phân.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Vua trả lời với các chiêm tinh gia, “Ðây là quyết định của ta: nếu các ngươi không nói cho ta biết trong giấc chiêm bao ta đã thấy gì và giải nghĩa điềm chiêm bao ấy cho ta, ta sẽ phân thây các ngươi ra từng mảnh và nhà các ngươi sẽ thành một đống đổ nát hoang tàn.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Vua đáp: “Lệnh ta đã công bố. Nếu các ngươi không thuật lại chiêm bao và giải thích ý nghĩa cho rõ, thân các ngươi sẽ bị lăng trì, nhà cửa các ngươi sẽ bị tịch thu.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Vua Nê-bu-cát-nết-xa bảo họ, “Ta đã bảo các ngươi rồi. Các ngươi phải thuật lại cho ta điềm chiêm bao đó và giải thích ý nghĩa. Nếu không ta sẽ phanh thây các ngươi và biến nhà cửa các ngươi ra đống gạch vụn.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

6Tassws yog mej pav zaaj npau suav hab txhais lub ntsab rua kuv, kuv yuav pub tshaav ntuj hab nqe hab koob meej luj rua mej. Yog le nuav, ca le pav zaaj npau suav hab txhais lub ntsab rua kuv.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Nhưng nếu các ngươi tỏ chiêm bao và lời giải nó cho ta, thì các ngươi sẽ được lễ vật, phần thưởng, và vinh hiển lớn từ nơi ta. Các ngươi hãy tỏ cho ta chiêm bao đó và lời giải nó thế nào.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Còn nếu các ngươi nói cho ta biết ta đã nằm chiêm bao và thấy gì, rồi giải thích ý nghĩa của nó cho ta, thì các ngươi sẽ được ban thưởng các tặng vật, các phần thưởng, và quyền cao chức trọng. Vậy hãy nói cho ta biết ta đã nằm chiêm bao và thấy gì, rồi giải thích ý nghĩa của nó cho ta.”

Bản Dịch Mới (NVB)

6Còn nếu các ngươi cho ta biết chiêm bao và giải thích ý nghĩa, ta sẽ ban thưởng nhiều và vinh dự lớn lao. Vậy các ngươi hãy thuật lại chiêm bao và giải thích ý nghĩa ngay đi!”

Bản Phổ Thông (BPT)

6Nhưng nếu các ngươi thuật được chiêm bao và giải thích ý nghĩa thì ta sẽ tưởng thưởng và ban vinh dự cho các ngươi. Vậy bây giờ hãy thuật cho ta chiêm bao đó và giải thích ý nghĩa của nó.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

7Puab teb zag ob has tas, “Thov vaajntxwv pav zaaj npau suav rua peb noog, mas peb yuav txhais lub ntsab rua koj.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Họ lại tâu lần thứ hai rằng: Xin vua kể chiêm bao cho những kẻ tôi tớ vua, và chúng tôi sẽ cắt nghĩa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Họ tâu lại với vua, “Xin hoàng thượng nói cho các tôi tớ của hoàng thượng biết hoàng thượng đã thấy gì trong điềm chiêm bao ấy, rồi chúng thần sẽ giải thích ý nghĩa của nó cho hoàng thượng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

7Họ lại tâu một lần nữa: “Cúi xin bệ hạ cho bề tôi biết chiêm bao, rồi chúng tôi xin giải thích ý nghĩa.”

Bản Phổ Thông (BPT)

7Các người thông thái thưa với vua lần nữa, “Xin vua hãy thuật lại cho các tôi tớ vua chiêm bao rồi chúng tôi sẽ giải thích ý nghĩa của nó.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

8Vaajntxwv teb tas, “Kuv paub tseeb tas mej yooj xeeb luab lim swjhawm xwb, vem mej pum tas kuv has tu nrho tas,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vua rằng: Ta biết chắc các ngươi tìm cách để hoãn thì giờ, vì các ngươi thấy sự ấy đã ra khỏi ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Bấy giờ vua nói, “Ta biết các ngươi chỉ muốn kéo dài thời gian thôi, vì các ngươi đã nhận thấy lệnh đã ra khỏi miệng ta rồi.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Vua đáp: “Bây giờ ta biết rõ ràng các ngươi chỉ tìm cách trì hoãn! Vì các ngươi nhận thức lệnh ta đã công bố:

Bản Phổ Thông (BPT)

8Vua Nê-bu-cát-nết-xa trả lời, “Ta biết các ngươi tìm cách kéo dài thì giờ vì các ngươi biết ta đã nói là làm.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

9yog mej tsw pav zaaj npau suav rua kuv, tes muaj tuab lu lug txav txem rua mej xwb. Mej yeej has hum yuav has lug daag hab has lug tsw tseeb rua kuv moog txug thaus txawv txaav tsw thooj le kuv has. Vem le nuav mej ca le has zaaj npau suav rua kuv, kuv txhad paub tas mej txhais tau lub ntsab hab.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nhưng, nếu các ngươi không tỏ cho ta biết chiêm bao, thì cũng chỉ có một luật cho các ngươi; vì các ngươi đã điều đình với nhau đem những lời giả dối bậy bạ nói cùng ta, cho đến ngày giờ sẽ thay đổi. Vậy, hãy nói chiêm bao cho ta, và ta sẽ biết rằng các ngươi có thể giải nghĩa được.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Nếu các ngươi không nói cho ta biết điềm chiêm bao ta đã thấy là gì, thì sẽ chỉ có một lệnh dành cho các ngươi mà thôi. Lâu nay các ngươi đã âm mưu với nhau và dùng những lời dối trá để gạt ta, với hy vọng rằng thời gian sẽ làm cho tình thế thay đổi. Vậy bây giờ hãy nói cho ta biết điềm chiêm bao ta đã thấy là gì; bấy giờ ta sẽ biết các ngươi có thể giải thích ý nghĩa của nó hay không.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9nếu các ngươi không cho ta biết chiêm bao, chỉ có một hình phạt chung cho tất cả các ngươi. Các ngươi đã toa rập với nhau đem lời dối trá gạt gẫm ta cho đến khi tình hình thay đổi. Vậy bây giờ hãy thuật chiêm bao cho ta, rồi ta mới biết các ngươi có khả năng giải nghĩa chiêm bao.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nếu các ngươi không thuật được chiêm bao đó thì các ngươi sẽ bị hình phạt. Các ngươi đã toa rập để giải thích láo và bịa đặt chuyện gian ác, hi vọng tình thế sẽ thay đổi. Bây giờ hãy cho ta biết chiêm bao thì ta sẽ biết rằng các ngươi có thể giải thích ý nghĩa của chiêm bao ấy cho ta!”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

10Cov Kheentia txawm teb vaajntxwv tas, “Vaajntxwv, thoob plawg huv lub qaab ntuj nuav yeej tsw muaj ib tug yuav ua tau lawv le koj has. Yeej tsw txeev muaj ib tug vaajntxwv luj kawg kws muaj fwjchim thov le nuav ntawm cov txwv neeb txwv yaig, cov kws ua khawv koob yeeg swv hab cov Kheentia.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Những người Canh-đê tâu lại cùng vua rằng: Chẳng có người nào trên đất nầy có thể tỏ ra việc của vua; vì chẳng có vua nào, chúa nào, người cai trị nào đem việc như thế hỏi đồng bóng, thuật sĩ, hay người Canh-đê nào.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Các chiêm tinh gia tâu với vua, “Không người nào trên thế gian nầy có thể bày tỏ cho hoàng thượng điều hoàng thượng đòi hỏi. Thật vậy, xưa nay chưa hề có vua, chúa, hay lãnh tụ nào đòi hỏi bất cứ pháp sư, bốc sư, hay chiêm tinh gia nào của họ những điều như thế.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Những người Canh-đê tâu: “Không một ai trên thế gian này có khả năng bầy tỏ điều bệ hạ yêu cầu. Chưa hề có một vua vĩ đại nào hoặc quyền uy đến đâu, ra lệnh cho bất cứ một pháp sư, thuật sĩ, hoặc người Canh-đê nào làm việc ấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Các người thông thái thưa với vua, “Trên trời đất nầy không ai có thể làm được điều vua đòi cả! Không có đại vương hùng cường nào lại bảo đồng bóng, thuật sĩ, nhà thông thái làm chuyện như thế

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

11Tej kws koj thov hov nyuaj kawg, tsw muaj ib tug twg yuav pav tau rua koj tsuas yog tej timtswv kws tsw nrug tuabneeg nyob txhad qha tau xwb.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Vì sự vua đòi là hiếm có, và không ai có thể tỏ cho vua được, chỉ có các vì thần không ở với loài xác thịt.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Những gì hoàng thượng đòi hỏi thật khó quá. Không ai có thể bày tỏ cho hoàng thượng được điều đó, ngoại trừ các thần, những đấng không ở giữa người phàm.”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Việc bệ hạ đòi khó quá, không ai có thể thực hiện được, ngoại trừ các vị thần linh, nhưng các vị ấy không sống giữa loài người phàm tục.”

Bản Phổ Thông (BPT)

11vì điều vua đòi hỏi quá khó. Chỉ có các vị thần không sống giữa con người mới làm được thôi.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

12Vem qhov nuav vaajntxwv txhad chim heev hab npau tawg ceev txawm has kuas muab cov tuabneeg txawj ntse huv Npanpiloo tua pov tseg huvsw.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Vậy nên vua phát tức mình và giận dữ lắm, bèn truyền mạng lịnh giết chết hết những bác sĩ của Ba-by-lôn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Ðiều đó làm cho vua tức giận và nổi trận lôi đình; vua truyền lịnh xử tử tất cả các nhà thông thái ở Ba-by-lôn.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Nghe vậy, vua nổi giận lôi đình, truyền lệnh xử tử tất cả các nhà thông thái Ba-by-lôn kia.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Khi vua nghe họ đáp như vậy thì nổi xung thiên. Vua liền ra lệnh xử tử tất cả các nhà thông thái trong toàn nước Ba-by-lôn.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

13Muaj ntawv tshaaj tawm kuas tua cov tuabneeg txawj ntse pov tseg, mas luas kuj moog nrhav Taniyee hab nwg cov kwvluag yuav muab tua pov tseg.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Vậy mạng lịnh đó đã truyền ra; người ta hầu đem giết hết thảy những bác sĩ, lại tìm Đa-ni-ên cùng đồng bạn người để giết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Thế là lịnh được truyền ra, và người ta bắt đầu đi bắt giết các nhà thông thái. Họ cũng đi tìm Ða-ni-ên và các bạn ông để giết họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Lệnh xử tử các nhà thông thái vừa ban hành, người ta đi tìm Đa-ni-ên và các bạn của chàng để xử tử luôn một thể.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Khi lệnh xử tử các nhà thông thái của vua Nê-bu-cát-nết-xa được ban ra thì người ta đi tìm Đa-niên và các bạn hữu ông để giết luôn.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

14Taniyee txawm ua tuab zoo has tej lug txawj ntse teb Ali‑au kws ua thawj rog saib cov tub rog zuv vaajntxwv kws tawm moog tua cov tuabneeg txawj ntse huv Npanpiloo,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Bấy giờ Đa-ni-ên lấy sự khôn ngoan tri thức mà nói với A-ri-ốc, quan thị vệ của vua, đã đi ra đặng giết những bác sĩ của Ba-by-lôn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Bấy giờ Ða-ni-ên nói một cách khôn ngoan và sáng suốt với A-ri-ốt quan phụ trách việc hành quyết, người đã ra đi để thi hành lệnh giết các nhà thông thái ở Ba-by-lôn.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Nhưng Đa-ni-ên khôn khéo tiếp xúc với A-ri-óc, chỉ huy trưởng đoàn vệ binh hoàng cung, đang khi ông này trên đường thi hành bản án xử tử các nhà thông thái Ba-by-lôn.

Bản Phổ Thông (BPT)

14A-ri-ốc, viên chỉ huy toán cận vệ vua là người sắp thi hành lệnh xử tử các nhà thông thái nước Ba-by-lôn. Nhưng Đa-niên dùng lời khôn khéo nói chuyện với ông ta.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

15hab nwg has rua Ali‑au kws yog vaajntxwv tug thawj rog tas, “Ua caag vaajntxwv tsaab ntawv yuav txav txem nyaav ua luaj?” Tes Ali‑au kuj pav zaaj hov rua Taniyee paub.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Người cất tiếng nói cùng A-ri-ốc, quan thị vệ của vua, rằng: Sao lại có mạng lịnh nghiêm cấp dường ấy ra từ vua? A-ri-ốc bèn kể chuyện cho Đa-ni-ên rõ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Ông nói và hỏi A-ri-ốt, vị quan do vua sai đến, “Tại sao lệnh vua ban ra buộc phải thi hành cấp bách như vậy?” Bấy giờ A-ri-ốt mới kể sự việc cho Ða-ni-ên hay.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Đa-ni-ên hỏi A-ri-óc: “Thưa quan, tại sao đức vua ra lệnh khắc nghiệt như vậy?” Sau khi A-ri-óc thuật lại đầu đuôi câu chuyện,

Bản Phổ Thông (BPT)

15Đa-niên hỏi, “Tại sao vua ra một lệnh tàn ác như thế?”A-ri-ốc liền thuật lại cho Đa-niên nghe đầu đuôi câu chuyện.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

16Mas Taniyee txhad nkaag moog hab thov vaajntxwv pub swjhawm rua nwg sub nwg txhad txhais tau zaaj npau suav lub ntsab rua vaajntxwv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Tức thì Đa-ni-ên vào, xin vua cho mình một hạn nữa, hầu có thể giải nghĩa điềm chiêm bao đó cho vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Vì thế Ða-ni-ên xin vào chầu vua và xin vua gia hạn cho một thời gian để ông giải thích ý nghĩa của điềm chiêm bao cho vua.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Đa-ni-ên liền vào chầu vua, xin vua cho mình thêm một thời hạn nữa để giải nghĩa chiêm bao cho vua.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Đa-niên liền vào gặp vua Nê-bu-cát-nết-xa và xin thêm một thời gian nữa để ông có thể giải thích chiêm bao của vua.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

17Tes Taniyee txawm rov lug rua huv nwg tsev hab qha zaaj hov rua nwg cov kwvluag kws yog Hananiya hab Misa‑ee hab Axaliya noog.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Đoạn, Đa-ni-ên trở về nhà, và tỏ sự ấy cho các bạn mình là Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Sau đó Ða-ni-ên trở về nhà và trình bày sự việc cho các bạn ông là Ha-na-ni-a, Mi-sa-ên, và A-xa-ri-a.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Khi Đa-ni-ên về nhà, trình bầy vấn đề cho các bạn Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria biết,

Bản Phổ Thông (BPT)

17Rồi Đa-niên trở về nhà thuật lại mọi chuyện cho các bạn mình là Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

18Nwg has kuas puab thov Vaajtswv ntuj txujkev khuvleej txug zaaj kws tsw muaj leejtwg paub nuav, sub Taniyee hab nwg cov kwvluag txhad tsw nrug lwm tug tuabneeg txawj ntse huv Npanpiloo puam tsuaj.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Người xin họ cầu Đức Chúa Trời ở trên trời dủ lòng thương xót họ về sự kín nhiệm nầy, hầu cho Đa-ni-ên và đồng bạn mình khỏi phải chết với những bác sĩ khác của Ba-by-lôn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Ông giục họ hãy khẩn thiết cầu xin ơn thương xót của Ðức Chúa Trời trên trời về bí mật nầy, để Ða-ni-ên và các bạn ông không bị giết chung với các nhà thông thái khác của Ba-by-lôn.

Bản Dịch Mới (NVB)

18và yêu cầu họ nài xin Đức Chúa Trời thương xót bầy tỏ điều huyền nhiệm này, để Đa-ni-ên và các bạn, cùng với các nhà thông thái khác ở Ba-by-lôn khỏi phải chết.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Đa-niên yêu cầu các bạn mình cầu nguyện Thượng Đế trên trời tỏ lòng từ bi giúp họ hiểu điều huyền bí nầy để họ khỏi bị chết chung với các nhà thông thái khác của Ba-by-lôn.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

19Mas zaaj kws tsw muaj leejtwg paub hov raug muab qha rua Taniyee ua yug quas toog mo ntuj. Mas Taniyee txhad qhuas Vaajtswv ntuj.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Vậy sự kín nhiệm được tỏ ra cho Đa-ni-ên trong sự hiện thấy ban đêm; Đa-ni-ên bèn ngợi khen Chúa trên trời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Vậy bí mật ấy đã được mặc khải cho Ða-ni-ên qua một khải tượng trong ban đêm. Do đó, Ða-ni-ên ca ngợi Ðức Chúa Trời trên trời

Bản Dịch Mới (NVB)

19Ngay đêm ấy, Chúa bầy tỏ cho Đa-ni-ên biết điều huyền nhiệm ấy trong một khải tượng. Và Đa-ni-ên ca ngợi Đức Chúa trên trời.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Đêm đó Thượng Đế giải thích điều huyền bí cho Đa-niên trong một dị tượng. Đa-niên liền ca ngợi Thượng Đế trên trời.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

20Taniyee has tas“Ca le qhuas Vaajtswv lub npe moog ib txhab ib txhws,tswvyim hab fwjchim luj kawg yog nwg le.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Đoạn, Đa-ni-ên cất tiếng nói rằng: Ngợi khen danh Đức Chúa Trời đời đời vô cùng! Vì sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20và nói, “Chúc tụng danh Ðức Chúa Trời đời đời vô cùng, vì sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Đa-ni-ên nói: “Chúc tụng danh Đức Chúa Trời đời đời mãi mãi, Vì sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài!

Bản Phổ Thông (BPT)

20Đa-niên nói:“Đáng ca ngợi Thượng Đế muôn đời,vì Ngài đầy khôn ngoan và quyền năng.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

21Nwg hloov lub caij lub nyoog,nwg hle tej vaajntxwv hab tsaa tej vaajntxwv tshab.Nwg pub tswvyim rua cov tuabneeg txawj ntse,hab pub kev paub rua cov kws txawj nkaag sab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Chính Ngài thay đổi thì giờ và mùa, bỏ và lập các vua; ban sự khôn ngoan cho kẻ khôn ngoan, và sự thông biết cho kẻ tỏ sáng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Ngài thay đổi thời tiết và mùa; Ngài phế và lập các vua; Ngài ban khôn ngoan cho những người thông sáng và ban trí tuệ cho những người học thức.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Chính Ngài thay đổi thời kỳ và mùa tiết, Phế và lập các vua. Sự khôn ngoan của người khôn ngoan là do Ngài ban, Và tri thức của người thông sáng cũng đến từ Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Ngài thay đổi thì giờ và mùa trong năm.Ngài cất lấy quyền lực vua nầyvà ban quyền đó cho vua khác.Ngài ban sự khôn ngoan cho người khônvà hiểu biết cho người thông sáng.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

22Nwg qha tej kws nyob tubtsw muaj leejtwg paub tshwm lug,nwg paub tej kws nyob huv qhov tsaus ntuj.hab qhov kaaj nrug nraim nwg nyob.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Chính Ngài tỏ ra những sự sâu xa kín nhiệm; Ngài biết những sự ở trong tối tăm, và sự sáng ở với Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Ngài mặc khải những việc sâu nhiệm và bí mật. Ngài biết rõ những gì ở trong cõi tối tăm, và Ngài hằng ở trong ánh sáng.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Chính Ngài bầy tỏ những điều sâu xa kín nhiệm, Ngài biết mọi sự xảy ra trong tối tăm, Vì Ngài là nguồn sáng.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Ngài bày tỏ những điều huyền bí thẳm sâu;Ngài biết những điều ẩn nấp trong bóng tốivà chung quanh Ngài toàn là ánh sáng.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

23Au kuv tej laug tug Vaajtswv,kuv ua koj tsaug hab qhuas koj,vem yog koj pub tswvyim hab pub zug rua kuv,hab qha yaam kws peb thov rua kuv paub,tsua qhov koj qha vaajntxwv zaaj tshwm rua peb paub.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Hỡi Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi! Tôi cảm ơn và ngợi khen Ngài, vì Ngài đã ban cho tôi sự khôn ngoan và quyền phép, và bây giờ Ngài đã khiến tôi biết điều chúng tôi cầu hỏi Ngài, mà tỏ cho chúng tôi biết việc của vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Lạy Ðức Chúa Trời của tổ tiên chúng con, con xin cảm tạ Ngài và tôn ngợi Ngài. Ngài đã ban cho con khôn ngoan và năng lực, và bây giờ Ngài lại bày tỏ cho con những điều chúng con cầu xin Ngài, vì Ngài quả đã cho chúng con biết những gì nhà vua đòi hỏi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

23Lạy Chúa là Đức Chúa Trời của tổ phụ con, con cảm tạ và ca ngợi Ngài, Vì Ngài ban cho con sự khôn ngoan và quyền năng, Vì bây giờ Ngài đã bầy tỏ cho con điều chúng con cầu xin, Ngài cho chúng con biết mối lo âu của vua.”

Bản Phổ Thông (BPT)

23Tôi cảm tạ và ca ngợi Ngài là Thượng Đế của tổ tiên tôivì Ngài đã ban cho tôi sự khôn ngoan và quyền năng.Ngài cho tôi điều tôi xin;và cho chúng tôi biết chiêm bao của vua.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

24Tes Taniyee txawm moog cuag Ali‑au kws vaajntxwv tau tsaa kuas muab cov tuabneeg txawj ntse huv Npanpiloo ua kuas puam tsuaj. Nwg nkaag moog has rua Ali‑au tas, “Thov tsw xob ua kuas cov tuabneeg txawj ntse huv Npanpiloo puam tsuaj taag. Ca le coj kuv moog cuag vaajntxwv, kuv yuav txhais zaaj npau suav rua vaajntxwv.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Vậy nên Đa-ni-ên đến nhà A-ri-ốc, là người vua đã truyền cho diệt những bác sĩ của Ba-by-lôn; và nói cùng người như vầy: Đừng diệt những bác sĩ của Ba-by-lôn; nhưng hãy đưa tôi vào trước mặt vua, thì tôi sẽ giải nghĩa điềm chiêm bao cho vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Sau đó Ða-ni-ên đến gặp A-ri-ốt, vị quan được vua chỉ định thi hành lệnh hành quyết các nhà thông thái của Ba-by-lôn, và nói với ông ấy, “Xin ngài đừng giết các nhà thông thái của Ba-by-lôn. Xin ngài đưa tôi vào gặp vua. Tôi sẽ giải nghĩa điềm chiêm bao cho vua.”

Bản Dịch Mới (NVB)

24Sau đó, Đa-ni-ên đến gặp quan A-ri-óc, là người vua chỉ định thi hành bản án xử tử các nhà thông thái Ba-by-lôn. Đa-ni-ên thưa với A-ri-óc: “Xin quan đừng xử tử các nhà thông thái Ba-by-lôn. Xin quan đưa tôi vào triều, tôi sẽ tâu đức vua ý nghĩa điềm chiêm bao.”

Bản Phổ Thông (BPT)

24Rồi Đa-niên đi đến A-ri-ốc, người mà vua Nê-bu-cát-nết-xa chọn để xử tử các nhà thông thái của Ba-by-lôn, bảo rằng, “Đừng xử tử các nhà thông thái Ba-by-lôn. Đưa tôi vào gặp vua, tôi sẽ thuật cho vua ý nghĩa chiêm bao của vua.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

25Tes Ali‑au txawm maaj nroog coj Taniyee moog cuag vaajntxwv, hab has rua vaajntxwv tas, “Kuv ntswb ib tug huv cov tuabneeg Yuta kws poob tebchaws kws txhais tau zaaj npau suav rua vaajntxwv paub.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Bấy giờ A-ri-ốc vội vàng dẫn Đa-ni-ên đến trước mặt vua, và tâu cùng vua như vầy: Tôi đã tìm thấy một người trong những con cái Giu-đa bị bắt làm phu tù, người ấy sẽ cho vua biết sự giải nghĩa đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25A-ri-ốt lập tức đưa Ða-ni-ên vào chầu vua và nói, “Hạ thần đã tìm được một người trong đám người bị lưu đày từ Giu-đa; người ấy có thể giải thích ý nghĩa của điềm chiêm bao cho chúa thượng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

25A-ri-óc vội vã đưa Đa-ni-ên vào triều và tâu: “Muôn tâu bệ hạ, tôi vừa tìm được một thanh niên trong vòng các phu tù Giu-đa. Anh ta sẽ tâu trình bệ hạ ý nghĩa điềm chiêm bao.”

Bản Phổ Thông (BPT)

25A-ri-ốc vội vàng đưa Đa-niên vào gặp vua và thưa, “Tôi đã tìm được một người trong các tù binh từ Giu-đa. Anh ta có thể giải thích ý nghĩa chiêm bao của vua.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

26Vaajntxwv txhad has rua Taniyee kws muaj dua npe hu ua Npeethesaxa tas, “Koj muaj peevxwm pav zaaj npau suav kws kuv pum hov hab txhais lub ntsab rua kuv paub lov?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên, mà người ta vẫn gọi là Bên-tơ-xát-sa, rằng: Quả thật rằng ngươi có thể tỏ cho ta biết điềm chiêm bao ta đã thấy, và lời giải nó chăng?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Vua hỏi Ða-ni-ên, cũng có tên là Bên-tê-sác-xa, “Ngươi có thể nói cho ta biết những gì ta đã thấy trong giấc chiêm bao và giải thích ý nghĩa của nó hay sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

26Vua hỏi Đa-ni-ên, cũng gọi là Bên-tơ-sát-xa: “Ngươi có thật sự đủ khả năng cho ta biết điềm chiêm bao ta thấy và ý nghĩa của nó không?”

Bản Phổ Thông (BPT)

26Vua liền hỏi Đa-niên, cũng có tên là Bên-tơ-sát-xa, “Anh có thể thuật lại chiêm bao của ta và giải thích ý nghĩa của nó à?”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

27Taniyee teb vaajntxwv tas, “Tsw muaj ib tug tub txawj ntse, lossws ib tug txwv neeb txwv yaig lossws ib tug kws txawj ua khawv koob yeeg swv lossws ib tug kws txawj saib caij saib nyoog yuav qha tau yaam kws tsw muaj leejtwg paub rua vaajntxwv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Đa-ni-ên ở trước mặt vua trả lời rằng: Sự kín nhiệm mà vua đã đòi, thì những bác sĩ, thuật sĩ, đồng bóng, thầy bói đều không có thể tỏ cho vua được.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Ða-ni-ên trả lời với vua, “Không nhà thông thái nào, bốc sư nào, pháp sư nào, hoặc thầy bói nào có thể bày tỏ cho hoàng thượng biết bí mật hoàng thượng đã hỏi,

Bản Dịch Mới (NVB)

27Đa-ni-ên tâu: “Tâu bệ hạ, điều huyền nhiệm mà bệ hạ hỏi, thật sự không một nhà thông thái, thuật sĩ, pháp sư, hoặc chiêm tinh nào có khả năng giải thích cho bệ hạ.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Đa-niên thưa, “Không có nhà thông thái, thuật sĩ, tướng số nào có thể giải thích cho vua điều huyền bí mà vua hỏi cả.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

28Tassws muaj ib tug Vaajtswv kws nyob sau ntuj qha yaam kws tsw muaj leejtwg paub tshwm lug, hab nwg qha rua vaajntxwv Nenpukhanexa paub txug tej kws yuav muaj tshwm lug rua tom hauv ntej. Koj zaaj npau suav hab koj zaaj yug quas toog kws koj pum huv koj lub taubhau sau koj lub txaaj pw yog le nuav.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Nhưng có một Đức Chúa Trời ở trên trời tỏ ra những điều kín nhiệm; và đã cho vua Nê-bu-cát-nết-sa biết điều sẽ tới trong những ngày sau rốt. Vậy, chiêm bao của vua và các sự hiện thấy của đầu vua đã thấy trên giường mình là như vầy:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28nhưng có một Ðức Chúa Trời trên trời, Ðấng mặc khải các bí mật. Ngài đã bày tỏ cho Vua Nê-bu-cát-nê-xa biết những gì sẽ xảy đến trong những ngày sắp tới. Ðiềm chiêm bao của hoàng thượng và các khải tượng hiện ra trong đầu hoàng thượng khi hoàng thượng nằm trên giường là thế nầy:

Bản Dịch Mới (NVB)

28Tuy nhiên, có Đức Chúa Trời trên trời, Ngài giải bầy điều huyền nhiệm. Ngài cho bệ hạ biết việc gì sẽ xảy ra trong những ngày cuối cùng. Đây là chiêm bao, là khải tượng trong tâm trí bệ hạ đang khi bệ hạ ngủ trên giường:

Bản Phổ Thông (BPT)

28Nhưng có một Thượng Đế trên trời có thể giải thích các điều bí mật và Ngài đã tỏ cho vua thấy sự việc sẽ xảy đến trong tương lai. Sau đây là chiêm bao, và dị tượng vua thấy đang khi nằm trên giường:

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

29Au vaajntxwv, thaus koj pw sau koj lub txaaj, mas koj xaav txug tej kws yuav tshwm lug rua yaav tom qaab, mas tug Vaajtswv kws qha tej kws tsw muaj leejtwg paub hov qha tej kws yuav tshwm lug rua koj.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Hỡi vua, khi vua nằm trên giường, có những tư tưởng về sự xảy đến sau nầy, thì Đấng hay tỏ sự kín nhiệm đã cho vua biết sự sẽ xảy đến.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29Tâu hoàng thượng, khi hoàng thượng nằm trên giường, tâm trí của hoàng thượng suy nghĩ đến những việc sẽ xảy ra sau nầy. Ðấng bày tỏ những huyền bí đã bày tỏ cho hoàng thượng biết những gì sẽ xảy đến về sau.

Bản Dịch Mới (NVB)

29Muôn tâu bệ hạ, khi bệ hạ ngủ trên giường, bệ hạ có những tư tưởng về những việc sẽ xảy ra sau này; và Đấng tiết lộ những điều huyền nhiệm đã tỏ cho bệ hạ biết việc gì sẽ xảy ra.

Bản Phổ Thông (BPT)

29Thưa vua, đang khi vua nằm thì suy tư về những việc sẽ đến. Thượng Đế, Đấng có thể cho con người biết những điều bí mật, tỏ cho vua việc sẽ xảy đến trong tương lai.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

30Qhov kws muab yaam nuav kws tsw muaj leejtwg paub qha tshwm rua kuv paub, tsw yog vem kuv muaj tswvyim ntau dua tej tuabneeg kws tseed caj sa nyob suavdawg, tassws yog qha rua vaajntxwv paub zaaj npau suav lub ntsab hab paub txug tej kws koj xaav ca huv lub sab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30Về phần tôi, sự kín nhiệm đó đã tỏ ra cho tôi, không phải vì tôi có sự khôn ngoan gì hơn người nào sống; nhưng để được giải nghĩa cho vua hiểu, và cho vua biết những ý tưởng trong lòng mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30Về phần hạ thần, huyền bí nầy được mặc khải cho hạ thần không phải vì hạ thần thông minh khôn sáng hơn người nào trên đời nầy, nhưng vì để hạ thần có thể giải thích cho hoàng thượng, hầu hoàng thượng có thể hiểu rõ những suy nghĩ trong lòng mình.

Bản Dịch Mới (NVB)

30Về phần tôi, Đức Chúa Trời đã bầy tỏ điều huyền nhiệm này cho tôi không phải vì tôi khôn ngoan hơn người, nhưng để trình bày ý nghĩa chiêm bao cho bệ hạ và giúp bệ hạ thấu hiểu các tư tưởng trong lòng mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

30Thượng Đế tỏ cho tôi biết điều huyền bí nầy không phải vì tôi khôn ngoan hơn ai nhưng để vua biết ý nghĩa của nó. Do đó vua sẽ hiểu những gì trong trí vua.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

31“Au vaajntxwv, koj tsaa qhov muag saib mas pum muaj ib tug nam moj zeeg luj luj. Tug moj zeeg luj nuav muaj fwjchim heev ci quas nplaag, nyob rua ntawm koj xubndag hab saib mas txaus ntshai kawg le.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Hỡi vua, vua nhìn xem, và nầy, có một pho tượng lớn. Pho tượng đó to lớn và rực rỡ lạ thường; đứng trước mặt vua, và hình dạng dữ tợn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31Tâu hoàng thượng, khi hoàng thượng đang nhìn, kìa, một pho tượng to lớn xuất hiện. Pho tượng rực rỡ và uy nghi ấy đứng trước mặt hoàng thượng. Hình dáng của pho tượng ấy thật kinh khiếp.

Bản Dịch Mới (NVB)

31Muôn tâu, bệ hạ đang nhìn, thì kìa, một pho tượng lớn xuất hiện. Pho tượng này đứng trước mặt bệ hạ, khổng lồ và sáng chói lạ thường, nhưng hình thù trông thật kinh khiếp.

Bản Phổ Thông (BPT)

31Thưa vua, trong giấc mộng vua thấy một pho tượng khổng lồ, sáng loáng đáng sợ đứng sừng sững trước mặt vua.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

32Tug moj zeeg lub taubhau yog tseem kub, lub hauv sab hab ob txhais npaab yog nyaj, lub plaab hab ob txhais ncej qaab yog tooj lab,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

32Đầu pho tượng nầy bằng vàng ròng; ngực và cánh tay bằng bạc; bụng và vế bằng đồng;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

32Ðầu của pho tượng làm bằng vàng ròng, ngực và hai tay bằng bạc, bụng và hai đùi bằng đồng,

Bản Dịch Mới (NVB)

32Đầu tượng bằng vàng ròng, ngực và cánh tay bằng bạc, bụng và hông bằng đồng,

Bản Phổ Thông (BPT)

32Đầu của tượng làm bằng vàng ròng. Ngực và cánh tay bằng bạc. Bụng và bắp vế làm bằng đồng.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

33ob txhais ceg yog hlau, ob txhais taw yog hlau xyaw aav nplaum.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

33ống chân bằng sắt; và bàn chân thì một phần bằng sắt một phần bằng đất sét.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

33và hai chân bằng sắt. Hai bàn chân làm bằng một phần sắt và một phần đất sét.

Bản Dịch Mới (NVB)

33đùi và ống chân bằng sắt, bàn chân nửa bằng sắt, nửa bằng sành.

Bản Phổ Thông (BPT)

33Bắp chuối làm bằng sắt, còn bàn chân thì một phần làm bằng sắt, một phần bằng đất sét.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

34Thaus koj saamswm saib, txawm muaj ib lub cos zeb kws muab txaam tsw yog tuabneeg txhais teg txaam, txawm dha lug raug tug moj zeeg hov txhais kwtaw kws yog aav nplaum xyaw hlau hab tsoo ua tawg taag ua tej dwb daim.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

34Vua nhìn pho tượng cho đến khi có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra, đến đập vào bàn chân bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

34Trong khi hoàng thượng đang nhìn nó, một tảng đá không do bàn tay loài người đục ra đã tông vào pho tượng ấy ngay chỗ hai bàn chân làm bằng sắt và đất sét, khiến pho tượng ấy vỡ nát thành những mảnh vụn.

Bản Dịch Mới (NVB)

34Khi bệ hạ đang nhìn, thì một tảng đá, không do tay người đục ra, đập vào hai bàn chân nửa bằng sắt nửa bằng sành của pho tượng, khiến chúng bể tan tành.

Bản Phổ Thông (BPT)

34Trong khi đang mải nhìn pho tượng thì vua thấy một tảng đá không do tay người đục ra. Nó bay đến đập vào hai chân bằng sắt và đất sét, khiến pho tượng ấy bể vụn.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

35Mas tej hlau, tej aav nplaum, tej tooj lab, tej nyaj hab tej kub puavleej tawg ntsoog ntxawg ua tej dwb daim zoo le tej npluag huv tshaav ntaus qoob thaus lub caij ntuj kub, cua muab ntsawj yaa taag lawm, tsw pum tshuav ib yaam daabtsw hlo le. Tassws lub cos zeb kws tsoo tug moj zeeg hov txawm luj quas zug ua ib lub roob luj luj puv nkaus lub nplajteb.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

35Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc, và vàng đều cùng nhau tan nát cả; trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó; nhưng hòn đã đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

35Sau đó đất sét, sắt, đồng, bạc, và vàng đều rã vụn ra như bụi trấu nơi sân đập lúa mùa hè. Gió thổi chúng bay đi tất cả, không chừa lại một vết tích nào. Còn vầng đá đã tông vào pho tượng thì biến thành một núi lớn tràn đầy khắp mặt đất.

Bản Dịch Mới (NVB)

35Ngay lúc đó, sắt, sành, đồng, bạc và vàng đều bị nghiền nát như trấu trên sân đạp lúa mùa hè, và bị gió đùa đi mất tăm. Nhưng tảng đá đập bể pho tượng biến thành một ngọn núi lớn, đầy dẫy khắp địa cầu.

Bản Phổ Thông (BPT)

35Rồi sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều tan nát cả. Chúng hóa ra như trấu trên sân đập lúa lúc mùa hè; gió thổi bay đi tứ tung, chẳng còn gì sót lại. Còn tảng đá đã đập vào pho tượng đó trở thành một hòn núi lớn bao trùm cả đất.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

36“Nuav yog koj zaaj npau suav. Nwgnuav peb yuav txhais lub ntsab rua vaajntxwv paub.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

36Đó là điềm chiêm bao. Bây giờ chúng tôi sẽ giải nghĩa ra trước mặt vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

36Ðó là điềm chiêm bao, và bây giờ chúng thần xin giải thích ý nghĩa của điềm chiêm bao ấy cho hoàng thượng.

Bản Dịch Mới (NVB)

36Đó là chiêm bao bệ hạ đã thấy. Bây giờ chúng tôi xin trình bầy ý nghĩa.

Bản Phổ Thông (BPT)

36Đó là chiêm bao của vua. Bây giờ tôi sẽ giải thích ý nghĩa.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

37Au vaajntxwv, kws yog ib tsoom vaajntxwv tug tuam vaajntxwv, kws Vaajtswv ntuj tau pub qhov kws kaav tej tebchaws hab pub fwjchim hab zug hab meej mom rua koj,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

37Hỡi vua, vua là vua các vua, vì Chúa trên trời đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự vinh hiển cho vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

37Tâu hoàng thượng, hoàng thượng là vua của các vua. Ðức Chúa Trời trên trời đã ban cho hoàng thượng vương quốc, quyền thế, sức mạnh, và vinh hiển.

Bản Dịch Mới (NVB)

37Muôn tâu, bệ hạ là vua vĩ đại nhất trong các vua! Chúa trên trời đã ban cho bệ hạ đế quốc, lực lượng, uy quyền, và vinh quang.

Bản Phổ Thông (BPT)

37Thưa vua, ngài là vì vua cao cả nhất. Thượng Đế trên trời đã ban cho vua vương quốc, quyền lực, sức mạnh, và vinh quang.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

38hab tau muab ib tsoom tuabneeg hab tsaj qus hab tej naag noog sau nruab ntug cob rua koj txhais teg tsw has nyob hovtwg kuj xwj, muab rua koj kaav taag nrho huvsw, mas lub taubhau kub hov yog koj ntaag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

38Ngài đã trao trong tay vua những con cái loài người, những thú đồng và chim trời, dầu chúng nó ở nơi nào, Ngài cũng đã làm cho vua được cai trị hết thảy; vậy vua là cái đầu bằng vàng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

38Ngài đã trao vào tay hoàng thượng loài người, thú đồng, và chim trời, bất kể chúng ở đâu, để lập hoàng thượng trị vì trên tất cả. Hoàng thượng là cái đầu bằng vàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

38Ngài ban cho bệ hạ quyền cai trị tất cả mọi loài ở khắp mọi nơi, từ loài người đến thú rừng, đến chim trời. Bệ hạ chính là cái đầu bằng vàng.

Bản Phổ Thông (BPT)

38Nơi nào có người, muông thú, chim chóc sống thì Thượng Đế giao cho vua quản trị. Thưa vua Nê-bu-cát-nết-xa, vua là cái đầu của pho tượng ấy.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

39“Dhau koj lawm yuav muaj dua ib lub tebchaws kaav kws qeg dua koj, hab tseed muaj dua lub tebchaws kws peb yog tooj lab kws yuav kaav thoob plawg lub nplajteb.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

39Nhưng sau vua, sẽ dấy lên một nước khác, kém nước của vua; rồi một nước thứ ba, tức là đồng, sẽ cai quản khắp đất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

39Sau hoàng thượng, một vương quốc khác sẽ trỗi lên, thấp kém hơn vương quốc của hoàng thượng. Kế đó là một vương quốc nữa, vương quốc thứ ba làm bằng đồng; vương quốc ấy sẽ trị vì trên khắp mặt đất.

Bản Dịch Mới (NVB)

39Theo sau bệ hạ, một đế quốc khác sẽ nổi lên, thua kém đế quốc của bệ hạ, rồi sau đó, một đế quốc thứ ba, bằng đồng, sẽ cai trị cả thế giới.

Bản Phổ Thông (BPT)

39Nhưng sẽ có một nước khác đến sau vua, không lớn bằng nước vua. Sau đó có một nước thứ ba, tức phần bằng đồng, sẽ đến cai trị khắp đất.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

40Hab yuav muaj lub tebchaws kws plaub muaj zug yaam le hlau, tsua qhov hlau yuav tsoo txhua yaam luv tawg taag ua tej dwb daim. Hab yuav muab luv hab tsoo tej tebchaws hov ntsoog taag ib yaam le hlau tsoo.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

40Lại có một nước thứ tư mạnh như sắt; vì sắt hay đập vỡ và bắt phục mọi vật, thì nước ấy cũng sẽ đập vỡ và nghiền nát như là sắt vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

40Tiếp theo là vương quốc thứ tư, nó cứng như sắt, vì sắt làm bể vụn và tan nát mọi thứ. Giống như sắt, vương quốc ấy sẽ đập đổ và nghiền nát mọi vương quốc khác.

Bản Dịch Mới (NVB)

40Kế đó, một đế quốc thứ tư mạnh như sắt, vì sắt đập bể và nghiền nát mọi vật. Y như sắt đập tan mọi vật, đế quốc này sẽ đập tan và nghiền nát mọi đế quốc trước.

Bản Phổ Thông (BPT)

40Rồi sẽ có một nước thứ tư, mạnh như sắt. Sắt đè bẹp và nghiền nát mọi vật ra sao thì nước thứ tư cũng nghiền nát và đè bẹp các nước khác như thế.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

41Ib yaam le koj pum txhais kwtaw hab cov ntiv taw ib qho yog aav nplaum ib qho yog hlau, mas lub tebchaws hov yuav sws faib le ntawd. Tassws tseed muaj zug le hlau ib txha, ib yaam le koj pum hlau xyaw aav nplaum hov.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

41Còn như vua đã thấy bàn chân và ngón chân nửa bằng đất sét nửa bằng sắt, ấy là một nước sẽ phải phân chia ra; nhưng trong nước đó sẽ có sức mạnh của sắt, theo như vua đã thấy sắt lộn với đất sét.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

41Tuy nhiên như hoàng thượng đã thấy hai bàn chân và các ngón chân, một phần làm bằng đất sét và một phần làm bằng sắt, vương quốc ấy sẽ gồm hai phần tử không hòa hợp với nhau; một ít sức mạnh của sắt vẫn ở trong đó, giống như hoàng thượng đã thấy sắt lẫn lộn với đất sét.

Bản Dịch Mới (NVB)

41Như bệ hạ đã thấy các bàn chân và ngón chân nửa bằng sành của thợ gốm, nửa bằng sắt, đế quốc này sẽ bị phân chia, nhưng vẫn còn phần nào sức mạnh của sắt, vì như bệ hạ thấy sắt pha sành.

Bản Phổ Thông (BPT)

41Vua thấy bàn chân của pho tượng một phần làm bằng đất sét, một phần bằng sắt. Như thế nghĩa là nước thứ tư sẽ bị chia ra. Nó vẫn còn đôi chút sức lực của sắt trong đó, như vua thấy sắt trộn lẫn với đất sét.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

42Ib yaam le tej ntiv taw ib qho yog hlau ib qhov yog aav nplaum, lub tebchaws hov ib qho yuav nplaum ib qho yuav nkig.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

42Những ngón chân nửa sắt nửa đất sét, nước đó cũng nửa mạnh nửa giòn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

42Giống như các ngón chân của hai bàn chân, một phần làm bằng sắt, và một phần làm bằng đất sét, vương quốc ấy sẽ gồm một phần cứng mạnh và một phần yếu dòn.

Bản Dịch Mới (NVB)

42Còn các ngón chân nửa bằng sắt, nữa bằng sành, có nghĩa là đế quốc này có phần mạnh cũng có phần yếu.

Bản Phổ Thông (BPT)

42Các ngón chân của pho tượng làm vừa bằng sắt, vừa bằng đất sét. Vương quốc thứ tư cũng vừa mạnh như sắt, cũng vừa dòn như đất sét.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

43Ib yaam le koj pum hlau xyaw aav nplaum, lub tebchaws yuav txuam tsoov ua tshoob ua kug tassws yuav tsw lu ua ke, ib yaam le hlau tsw lu rua aav nplaum.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

43Vua đã thấy sắt lộn với đất sét, ấy là chúng nó lộn nhau bởi giống loài người; song không dính cùng nhau, cũng như sắt không ăn với đất sét.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

43Như hoàng thượng đã thấy sắt trộn lẫn với đất sét nung, dân trong vương quốc ấy sẽ là một tập thể hỗn hợp nhưng không đoàn kết với nhau, cũng giống như sắt không hòa hợp với đất sét vậy.

Bản Dịch Mới (NVB)

43Như bệ hạ thấy sắt pha sành, các dân trong đế quốc sẽ sống lẫn lộn với nhau, nhưng vẫn không kết hợp được, y như sắt không thể nào kết dính với sành.

Bản Phổ Thông (BPT)

43Vua thấy sắt trộn với đất sét nhưng sắt và đất sét không thể kết hợp với nhau. Cũng vậy, dân chúng của nước thứ tư sẽ hỗn tạp, không đoàn kết như một dân.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

44Ncua swjhawm kws tej vaajntxwv hov nyob Vaajtswv ntuj yuav tsaa dua ib lub tebchaws kws tsw muaj ib nub kws ua kuas puam tsuaj le, lossws qhov kws kaav lub tebchaws hov yuav tsw poob rua lwm haiv tuabneeg. Lub tebchaws hov yuav ua rua tej tebchaws tawg ntsoog ntxawg ua tej dwb daim yaaj taag, hab lub tebchaws hov yuav nyob ruaj khov moog ib txhws,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

44Trong đời các vua nầy, Chúa trên trời sẽ dựng nên một nước không bao giờ bị hủy diệt, quyền nước ấy không bao giờ để cho một dân tộc khác; song nó sẽ đánh tan và hủy diệt hết các nước trước kia, mà mình thì đứng đời đời;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

44Trong thời các vua đó, Ðức Chúa Trời trên trời sẽ lập nên một vương quốc không bao giờ bị hủy diệt, và không ai sẽ được nắm quyền của vương quốc ấy. Vương quốc ấy sẽ nghiền nát và diệt trừ tất cả các vương quốc khác; còn nó sẽ cứ đứng vững đời đời.

Bản Dịch Mới (NVB)

44Trong đời các vua chúa ấy, Chúa trên trời sẽ thiết lập một vương quốc đời đời không bao giờ sụp đổ, và không hề bị một dân tộc nào khác tước đoạt chủ quyền. Vương quốc này sẽ nghiền nát và tiêu diệt tất cả các vương quốc khác trong khi chính nó sẽ trường tồn mãi mãi,

Bản Phổ Thông (BPT)

44Trong thời các vua ấy, Thượng Đế trên trời sẽ lập một nước không bao giờ bị tiêu diệt hay bị trao vào tay một dân khác. Nước ấy sẽ tồn tại mãi mãi sau khi đè bẹp và tiêu diệt các nước khác.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

45lawv le kws koj pum lub cos zeb raug muab txaam ntawm lub roob kws tsw yog tuabneeg txhais teg txaam, hab lub cos zeb ua rua tej hlau, tej tooj lab, tej aav nplaum, tej nyaj hab tej kub tawg ntsoog ua tej dwb daim. Tug Vaajtswv luj kawg tau qha vaajntxwv paub tas yuav muaj daabtsw tshwm lug rua yaav tom qaab. Zaaj npau suav nuav muaj tseeb hab tej lug txhais lub ntsab kuj tseeb tag tag le.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

45theo như vua đã xem thấy hòn đá đục ra từ núi, chẳng phải bởi tay, đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng. Đức Chúa Trời lớn đã cho vua biết sự sau nầy sẽ đến. Điềm chiêm bao nầy là thật, và lời giải nó là chắc chắn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

45Giống như hoàng thượng đã thấy, vầng đá được đục ra từ hòn núi nhưng không phải do tay loài người đục ra, vầng đá ấy sẽ đập nát sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng thành những mảnh vụn. Ðức Chúa Trời vĩ đại trên trời đã bày tỏ cho hoàng thượng những gì sẽ xảy ra về sau nầy. Ðiềm chiêm bao của hoàng thượng đã thấy là thật, và ý nghĩa của nó là chắc chắn.”

Bản Dịch Mới (NVB)

45y như bệ hạ thấy tảng đá không do tay người đục ra từ ngọn núi và nghiền nát sắt, đồng, sành, bạc và vàng. Đức Chúa Trời vĩ đại đã bầy tỏ cho bệ hạ biết điều gì sẽ xảy ra sau này. Tôi đã thuật chiêm bao đúng như bệ hạ thấy, và lời giải hoàn toàn đáng tin cậy.”

Bản Phổ Thông (BPT)

45Thưa vua Nê-bu-cát-nết-xa, vua thấy một tảng đá đục ra từ núi nhưng không phải do tay người, đập nát pho tượng. Tảng đá đập bể sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng thành từng mảnh. Thượng Đế Tối Cao đã tiết lộ cho vua biết những biến chuyển sẽ xảy ra. Điềm chiêm bao là thật và vua có thể tin vào lời giải thích nầy.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

46Vaajntxwv Nenpukhanexa txawm khwb nkaus pe Taniyee, hab has kuas muab hov txhua chaw hab moov tshuaj tsw qaab lug xyeem rua Taniyee.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

46Bấy giờ vua Nê-bu-cát-nết-sa sấp mặt xuống, lạy Đa-ni-ên, và truyền dâng lễ vật cùng đồ thơm cho người.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

46Bấy giờ Vua Nê-bu-cát-nê-xa sấp mình xuống trước mặt Ða-ni-ên và lạy ông. Vua truyền dâng một của lễ chay và dâng hương cho ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

46Ngay sau đó, vua Nê-bu-cát-nết-sa sấp mặt xuống đất, lạy Đa-ni-ên, và ra lệnh đem lễ vật và trầm hương tặng cho Đa-ni-ên.

Bản Phổ Thông (BPT)

46Vua Nê-bu-cát-nết-xa liền sấp mình xuống đất trước mặt Đa-niên tỏ lòng tôn kính ông. Vua ra lệnh dâng của lễ cùng trầm hương cho Đa-niên.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

47Vaajntxwv has rua Taniyee tas, “Muaj tseeb tag, koj tug Vaajtswv yog ib tsoom timtswv tug Vaajtswv, hab yog ib tsoom vaajntxwv tug Tswv, yog tug kws qha tej kws tsw muaj leejtwg paub tshwm lug, vem koj muaj peevxwm qha tau zaaj kws tsw muaj leejtwg paub nuav tshwm lug.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

47Đoạn, vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và là Chúa của các vua; chính Ngài là Đấng tỏ ra những sự kín nhiệm, vì ngươi đã có thể tỏ ra sự kín nhiệm nầy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

47Vua nói với Ða-ni-ên, “Quả thật, Ðức Chúa Trời của ngươi đúng là Ðức Chúa Trời của các thần, Chúa của các vua, và Ðấng mặc khải những huyền bí, vì ngươi đã có thể bày tỏ huyền bí nầy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

47Vua tuyên bố: “Đức Chúa Trời của ngươi thật là thần vĩ đại nhất trong các thần, là Chúa Tể trên các vua chúa, là Đấng tiết lộ điều huyền nhiệm, vì Ngài đã ban cho ngươi khả năng giải bầy điều huyền nhiệm này.”

Bản Phổ Thông (BPT)

47Rồi vua bảo Đa-niên, “Thật ta biết Thượng Đế ngươi lớn hơn tất cả các thần, Ngài là CHÚA của các vua. Ngài cho người ta biết những điều họ không thể biết. Ta biết đúng vậy vì ngươi có thể cho ta biết những điều huyền bí nầy.”

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

48Vaajntxwv txhad pub meej mom sab hab tshaav ntuj ntau kawg rua Taniyee, hab tsaa nwg ua tug kaav taag nrho lub xeev Npanpiloo huvsw, hab ua tug thawj kws kaav cov tuabneeg txawj ntse huv Npanpiloo suavdawg.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

48Vua bèn tôn Đa-ni-ên lên sang trọng và ban cho người nhiều lễ vật trọng. Vua lập người cai trị cả tỉnh Ba-by-lôn, và làm đầu các quan cai những bác sĩ của Ba-by-lôn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

48Vua thăng chức cho Ða-ni-ên và ban cho ông nhiều món quà lớn. Vua lập ông làm quan cai trị cả tỉnh Ba-by-lôn và làm lãnh tụ tất cả các nhà thông thái của Ba-by-lôn.

Bản Dịch Mới (NVB)

48Vua thăng chức cho Đa-ni-ên và ban cho chàng nhiều tặng phẩm quý giá. Vua giao cho Đa-ni-ên cai trị toàn tỉnh Ba-by-lôn và cử chàng làm tham mưu trưởng lãnh đạo tất cả các nhà thông thái Ba-by-lôn.

Bản Phổ Thông (BPT)

48Sau đó vua ban thưởng cho Đa-niên đồng thời giao cho ông một chức vụ quan trọng trong nước mình. Vua đặt ông cai quản toàn vùng Ba-by-lôn và cắt cử ông đứng đầu mọi nhà thông thái ở Ba-by-lôn.

Vaajtswv Txujlug (HMOBSV)

49Taniyee thov vaajntxwv mas vaajntxwv kuj tsaa Salab, Mesa hab Anpenekau ua cov kws tu daag num huv lub xeev Npanpiloo. Huas Taniyee tseed nyob huv vaajntxwv lub tsev ua num.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

49Đa-ni-ên cầu xin vua, thì vua lập Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô cùng cai trị tỉnh Ba-by-lôn, còn Đa-ni-ên thì chầu nơi cửa vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

49Ngoài ra, theo lời tiến cử của Ða-ni-ên, vua bổ nhiệm Sa-đơ-rắc, Mê-sách, và A-bết-nê-gô làm các quan điều hành trong tỉnh Ba-by-lôn, trong khi Ða-ni-ên phục vụ trong triều đình.

Bản Dịch Mới (NVB)

49Theo lời thỉnh cầu của Đa-ni-ên, vua bổ nhiệm Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết Nê-gô quản lý nha hành chánh tỉnh Ba-by-lôn, còn Đa-ni-ên phục vụ tại triều.

Bản Phổ Thông (BPT)

49Đa-niên xin vua cử Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-nê-gô làm quan vùng Ba-by-lôn, nhà vua bằng lòng làm theo điều Đa-niên yêu cầu. Còn Đa-niên thì trở nên một trong những cận thần trong cung vua.