So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1-2Ntau xyoo ua ntej uas cov Yixalayees tseem tsis tau muaj vajntxwv, txawm muaj kev tshaib nqhis nyob hauv tebchaws Yixalayees. Muaj ib tug txivneej npe hu ua Elimelej, nws yog Efalas cuab kwvtij thiab nyob hauv lub nroog Npelehees hauv tebchaws Yudas, nws thiaj coj Na-aumis uas yog nws tus pojniam thiab nws ob tug tub, Maloos thiab Khili-oos tsiv mus nyob tau ib ntus nram tebchaws Mau-am. Thaum lawv tseem nyob nrad,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Trong đời các quan xét, một cơn đói kém xảy đến trong xứ, có một người từ Bết-lê-hem xứ Giu-đa, đi với vợ và hai con trai mình đến kiều ngụ trong xứ Mô-áp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Trong đời các quan xét, một nạn đói xảy ra trong xứ. Có một người từ Bết-lê-hem xứ Giu-đa cùng với vợ và hai con trai mình đến tạm trú trong xứ Mô-áp.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Trong thời các thủ lãnh trị vì, trong xứ có một nạn đói. Một người kia đã đưa vợ và hai con trai ông rời khỏi Bết-lê-hem, xứ Giu-đa, qua miền đồng bằng xứ Mô-áp để sinh sống.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Trong thời các thẩm phán trị vì, có một cơn đói kém trong xứ; có một người ở Bết-lê-hem, xứ Giu-đa, đưa vợ và hai con trai mình qua nước Mô-áp sinh sống.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Xưa kia vào thời kỳ các quan án cai trị Ít-ra-en, trong xứ gặp nạn đói kém.

Vajtswv Txojlus (HWB)

1-2Ntau xyoo ua ntej uas cov Yixalayees tseem tsis tau muaj vajntxwv, txawm muaj kev tshaib nqhis nyob hauv tebchaws Yixalayees. Muaj ib tug txivneej npe hu ua Elimelej, nws yog Efalas cuab kwvtij thiab nyob hauv lub nroog Npelehees hauv tebchaws Yudas, nws thiaj coj Na-aumis uas yog nws tus pojniam thiab nws ob tug tub, Maloos thiab Khili-oos tsiv mus nyob tau ib ntus nram tebchaws Mau-am. Thaum lawv tseem nyob nrad,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Người tên là Ê-li-mê-léc, vợ tên là Na-ô-mi, hai con trai tên là Mạc-lôn và Ki-li-ôn, đều là dân Ê-phơ-rát về Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa. Đến xứ Mô-áp, chúng bèn ở tại đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Người nầy tên là Ê-li-mê-léc, vợ tên là Na-ô-mi, hai con trai tên là Mạc-lôn và Ki-li-ôn; tất cả là người Ê-phơ-rát thuộc Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa. Họ đến xứ Mô-áp và sinh sống ở đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Người chồng tên là Ê-li-mê-léc; người vợ tên là Na-ô-mi; hai con trai tên là Mác-lôn và Ki-li-ôn. Họ là con cháu của Ép-ra-tha, vốn là cư dân của Bết-lê-hem xứ Giu-đa. Họ dọn đến đồng bằng xứ Mô-áp và định cư tại đó.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Người chồng tên là Ê-li-mê-léc, vợ tên Na-ô-mi, hai con trai tên là Mạc-lôn và Ki-li-ôn. Họ vốn là người Ê-phơ-rát, ở Bết-lê-hem, xứ Giu-đa. Họ đến nước Mô-áp và định cư tại đó.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Có một người tên Ê-li-mê-léc ở Bết-lê-hem và vợ cùng hai con trai đi sang xứ Mô-áp sinh sống. Vợ ông tên Na-ô-mi, còn hai con trai tên Ma-lôn và Ki-li-ôn. Họ là dân Ép-ra-tha thuộc Bết-lê-hem, xứ Giu-đa. Họ xuống xứ Mô-áp định cư.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Elimelej txawm tuag lawm, tseg Na-aumis nrog nws ob tug tub nyob,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Ê-li-mê-léc, chồng của Na-ô-mi, qua đời, để nàng lại với hai con trai mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Bấy giờ, chồng của Na-ô-mi là Ê-li-mê-léc qua đời để nàng lại với hai con trai.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Nhưng chẳng bao lâu Ê-li-mê-léc chồng của Na-ô-mi qua đời, để bà và hai con ở lại.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Nhưng Ê-li-mê-léc, chồng của Na-ô-mi, qua đời, để bà và hai con lại.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Ê-li-mê-léc, chồng của Na-ô-mi qua đời tại đó, để lại vợ và hai con trai.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4nkawd thiaj mus yuav tau cov neeg Mau-am ob tug ntxhais uas yog Aulepas thiab Luv los ua pojniam. Thiab lawv nyob hauv lub tebchaws ntawd kwv lam li kaum xyoo tom qab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Chúng nó cưới vợ trong người nữ Mô-áp, người nầy tên là Ọt-ba, người kia tên là Ru-tơ; họ ở tại đó độ mười năm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Hai người con trai nầy cưới vợ là người Mô-áp. Một người tên là Ọt-ba và người kia tên là Ru-tơ. Họ ở tại đó khoảng mười năm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Hai người con ấy lấy vợ là các phụ nữ Mô-áp. Một cô tên Ọt-pa và một cô tên Ru-tơ. Họ sống tại đó khoảng mười năm.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Hai người con nầy lấy phụ nữ Mô-áp làm vợ. Một cô tên là Ọt-ba và một cô tên là Ru-tơ. Họ sống tại đó khoảng mười năm.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Hai cậu con cưới vợ người Mô-áp. Một cô tên Ọt-ba, cô kia tên Ru-tơ. Sau khi Na-ô-mi và hai con trai cư ngụ ở xứ Mô-áp khoảng mười năm,

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Maloos thiab Khili-oos nkawd txawm tuag huv tibsi lawm, tseg Na-aumis nyob ib leeg tsis muaj txiv thiab tsis muaj tub li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Kế sau, Mạc-lôn và Ki-li-ôn cũng thác, để Na-ô-mi ở lại, không chồng không con.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Sau đó, Mạc-lôn và Ki-li-ôn cũng qua đời, để lại Na-ô-mi một mình, không chồng, không con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Sau đó, cả Mác-lôn và Ki-li-ôn đều qua đời, để bà Na-ô-mi ở lại không chồng không con.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Kế đó, cả Mạc-lôn và Ki-li-ôn đều qua đời, để Na-ô-mi lại không chồng không con.

Bản Phổ Thông (BPT)

5thì Ma-lôn và Ki-li-ôn cũng qua đời. Na-ô-mi rốt cuộc còn lại một mình, không chồng không con.

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Tau tsis ntev los tom qab no, Na-aumis hnov hais tias tus TSWV tau foom koob hmoov rau nws haivneeg, lawv rov ua tau qoobloo; yog li ntawd nws thiaj coj nws ob tug nyab sawv kev tawm hauv tebchaws Mau-am rov qab los.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Bấy giờ, Na-ô-mi có nghe nói rằng Đức Giê-hô-va đã đoái xem dân sự Ngài, và ban lương thực cho, bèn đứng dậy cùng hai dâu mình, đặng từ xứ Mô-áp trở về.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Bấy giờ, khi còn ở xứ Mô-áp, Na-ô-mi nghe nói rằng Đức Giê-hô-va đã đoái thương dân Ngài và ban lương thực cho họ nên bà cùng với hai con dâu mình vội vàng từ xứ Mô-áp trở về.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Bấy giờ, Na-ô-mi và hai con dâu của bà đứng dậy, rời khỏi đồng bằng xứ Mô-áp để hồi hương, vì lúc ở Mô-áp bà có nghe rằng CHÚA đã đoái thăm dân Ngài và ban cho họ lương thực.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Bấy giờ Na-ô-mi và hai con dâu mình chổi dậy, rời nước Mô-áp để hồi hương, vì lúc ở Mô-áp bà có nghe rằng Đức Chúa Trời đã đoái thăm dân Ngài và ban cho họ thực phẩm.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Đang khi ở Mô-áp thì Na-ô-mi nghe rằng CHÚA đã đến cứu giúp dân Ngài và ban thực phẩm cho họ trở lại nên bà cùng hai con dâu chuẩn bị lên đường về quê hương.

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Lawv pib sawv kev ua ke rov qab los rau pem tebchaws Yudas, tiamsis thaum lawv los txog ib tog kev

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Vậy, người lìa bỏ chỗ mình đã ở, cùng hai dâu mình lên đường đặng trở về xứ Giu-đa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Vậy bà rời chỗ mình đang ở, cùng hai con dâu lên đường trở về xứ Giu-đa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Vậy bà cùng hai con dâu của bà rời bỏ nơi họ đang sống, lên đường trở về xứ Giu-đa.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Vậy bà cùng hai nàng dâu rời bỏ nơi mình đang sống, lên đường trở về xứ Giu-đa.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Na-ô-mi cùng hai con dâu rời nơi ở lên đường trở về xứ Giu-đa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Na-aumis hais rau nws ob tug nyab hais tias, “Neb cia li rov qab mus nrog neb niam nyob. Thov tus TSWV ua zoo rau neb ib yam li neb tau ua zoo rau kuv thiab kuv ob tug tub uas tuag lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Nhưng Na-ô-mi nói cùng hai dâu mình rằng: Mỗi con hãy trở về nhà mẹ mình đi. Cầu Đức Giê-hô-va lấy ơn đãi hai con như hai con đã đãi các người thác của chúng ta, và đã đãi chính mình ta!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Nhưng Na-ô-mi nói với hai con dâu mình rằng: “Các con mỗi người hãy trở về nhà mẹ mình đi. Cầu xin Đức Giê-hô-va tỏ lòng thương với hai con, như hai con đã tỏ lòng thương với mẹ và những người quá cố.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Lúc ấy, Na-ô-mi bảo hai con dâu của bà, “Các con hãy trở về nhà mẹ của các con đi. Cầu xin CHÚA đối xử tốt với các con, như các con đã đối xử tốt với những người đã qua đời và với mẹ.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Nhưng Na-ô-mi nói cùng hai con dâu mình rằng: “Các con hãy trở về nhà của mẹ các con đi. Cầu xin CHÚA đối xử tốt với các con, như các con đã đối xử tốt với những người đã qua đời và với mẹ.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Nhưng Na-ô-mi bảo hai nàng dâu rằng, “Các con hãy trở về nhà mẹ mình đi. Nguyện CHÚA tỏ lòng nhân từ Ngài cho các con như các con đã tỏ lòng nhân từ cùng mẹ và các con trai đã qua đời của mẹ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Thiab thov tus TSWV pub kom neb rov tau txiv yuav thiab nyob muaj vaj muaj tsev dua ntxiv.”Yog li ntawd, Na-aumis thiaj nwj nws ob tug nyab thiab yuav ncaim mus. Tiamsis nkawd txawm tsa suab hlo quaj

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nguyện Đức Giê-hô-va ban cho hai con được bình yên ở nơi nhà chồng mới! Rồi người ôm hôn hai nàng, còn hai nàng cất tiếng lên khóc,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Nguyện Đức Giê-hô-va ban cho hai con được bình an nơi nhà chồng mới!” Rồi bà ôm hôn hai dâu mình và hai nàng òa lên khóc.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Cầu xin CHÚA ban phước cho các con, để người nào cũng được an vui trong nhà chồng mới của mình.” Nói xong bà hôn họ, và họ khóc nức nở.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Nguyện xin CHÚA ban phước cho các con, người nào cũng được an vui trong nhà chồng mới của mình.” Rồi bà hôn họ và họ khóc nức nở.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nguyện CHÚA ban cho các con hạnh phúc nơi nhà chồng mới.” Khi Na-ô-mi hôn từ giã hai nàng thì cả ba đều oà lên khóc.

Vajtswv Txojlus (HWB)

10thiab hais rau nws hais tias, “Wb tsis mus! Wb yuav nrog koj mus rau pem koj cov kwvtij!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10và nói rằng: Chúng tôi sẽ đi với mẹ đến quê hương của mẹ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Hai nàng nói: “Chúng con sẽ đi với mẹ trở về quê hương của mẹ.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Họ nói với bà, “Không, chúng con sẽ đi với mẹ về quê hương của mẹ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

10Họ nói với bà: “Không, chúng con sẽ đi với mẹ, cùng về quê hương của mẹ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

10Hai nàng thưa với Na-ô-mi, “Không, chúng con muốn đi với mẹ đến cùng dân tộc mẹ.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Na-aumis teb hais tias, “Kuv ob tug nyab, neb yuav tsum rov qab mus tsev xwb. Vim li cas neb thiaj xav nrog kuv mus? Neb xav hais tias kuv tseem yuav muaj dua tub los yuav neb thiab no los?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Na-ô-mi đáp: Hỡi hai con gái ta, hãy trở về, đi với mẹ làm chi? Mẹ há còn những con trai trong lòng có thế làm chồng chúng con sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Na-ô-mi trả lời: “Hai con gái của mẹ ơi, hãy trở về chứ đi với mẹ làm gì? Mẹ đâu còn các con trai trong lòng để có thể làm chồng các con được?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Nhưng Na-ô-mi đáp, “Hãy trở về, các con gái của mẹ. Tại sao các con muốn đi theo mẹ? Làm sao mẹ có thể sinh các con trai được nữa để chúng làm chồng các con?

Bản Dịch Mới (NVB)

11Nhưng Na-ô-mi đáp: “Hãy trở về đi, các con gái của mẹ, tại sao các con muốn đi với mẹ? Trong lòng mẹ đâu còn con trai nữa để có thể làm chồng các con?

Bản Phổ Thông (BPT)

11Nhưng Na-ô-mi bảo, “Các con gái ta ơi, hãy trở về nhà mình đi. Sao các con muốn theo mẹ làm gì? Mẹ đâu có còn sinh con trai nữa để làm chồng các con;

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Neb cia li rov qab mus tsev, rau qhov kuv laus thiab yuav tsis taus txiv ntxiv lawm. Txawm yog kuv tseem muaj kev cia siab thiab mus yuav txiv hmo no thiab muaj kiag ob tug tub los

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Hỡi hai con gái ta, hãy trở về đi đi; mẹ già quá mà lấy chồng nữa. Lại dầu bây giờ mẹ nói: Ta có lòng trông mong, từ chiều nay ta sẽ có chồng, dẫu ta sanh đẻ con trai đi nữa,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Các con của mẹ, hãy trở về đi! Mẹ già rồi, không lấy chồng được nữa. Mà cho dù mẹ có hi vọng lấy chồng tối nay và sẽ sinh con trai đi nữa,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Hãy về đi, các con gái của mẹ. Hãy đi đi, vì mẹ đã quá già để tái giá, cho dù mẹ nghĩ rằng mẹ vẫn còn hy vọng tái giá. Giả như tối nay mẹ lấy chồng và có thai rồi sinh các con trai,

Bản Dịch Mới (NVB)

12Hãy về đi, các con gái của mẹ. Hãy đi đi. Vì mẹ đã quá già để lấy chồng nữa. Ví dù mẹ nghĩ rằng mẹ vẫn còn hy vọng tái giá. Dù mẹ lấy chồng tối nay và có con trai;

Bản Phổ Thông (BPT)

12các con gái của mẹ ơi, hãy trở về nhà mình đi. Mẹ già rồi đâu còn lấy chồng được nữa. Dù mẹ tự nhủ, ‘Ta vẫn còn hi vọng,’ dù đêm nay mẹ lấy chồng, và dù mẹ sinh thêm con trai nữa,

Vajtswv Txojlus (HWB)

13neb puas yuav tos taus txog thaum nkawd hlob? Saib qhov no puas ua rau neb nyob taus tsis mus yuav lwm tus? Kuv ob tug nyab, neb tsis txhob ua li ntawd, neb yeej paub hais tias yuav ua tsis tau li ntawd ib zaug li. Tus TSWV tau tso kuv tseg lawm, thiab kuv hlub neb heev, kuv tsis xav hais tias neb lub neej yuav zoo li no.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13chúng con há lại muốn đợi cho đến chúng nó khôn lớn, và không lấy chồng khác hay sao? Không, hỡi chúng con, nỗi sầu thảm của mẹ cay đắng muôn phần hơn của chúng con, vì tay của Đức Giê-hô-va đã giơ ra hại mẹ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13chẳng lẽ các con cứ đợi cho đến khi chúng khôn lớn sao? Chẳng lẽ các con không lấy chồng khác sao? Không, con gái của mẹ, nỗi cay đắng của mẹ nhiều gấp bội các con, vì tay của Đức Giê-hô-va đã giơ ra giáng họa trên mẹ.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13liệu các con có thể đợi cho đến khi chúng khôn lớn chăng? Các con há có thể không lấy chồng khác sao? Không đâu, các con gái của mẹ ơi, nỗi sầu khổ của mẹ còn đắng cay hơn của các con rất nhiều, bởi vì tay CHÚA đã đưa ra chống lại mẹ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

13liệu các con có thể đợi cho đến khi chúng khôn lớn sao? Các con há có thể không lấy chồng khác sao? Không đâu, các con gái của mẹ ơi, nỗi sầu khổ của mẹ còn đắng cay hơn của các con nhiều. Bởi vì CHÚA đã đưa tay ra nghịch lại mẹ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

13chẳng lẽ các con sẽ chờ cho đến khi chúng nó khôn lớn sao? Các con chịu ở bao nhiêu năm như thế mà không lấy chồng khác sao? Không nên, các con gái của mẹ ơi. Các con không thể nào thông cảm nỗi sầu khổ của mẹ được vì CHÚA đã nghịch lại mẹ!”

Vajtswv Txojlus (HWB)

14Nkawd rov quaj dua ib zaug ntxiv. Ces Aulepas txawm nwj nws niampog thiab ncaim rov qab mus tsev lawm, tiamsis Luv tseem tuav rawv nws niampog tsis tso li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Hai nàng lại cất tiếng lên khóc. Đoạn, Ọt-ba hôn và từ biệt bà gia mình; còn Ru-tơ không chịu phân rẽ người.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Hai nàng lại òa lên khóc. Rồi Ọt-ba hôn từ biệt mẹ chồng mình, nhưng Ru-tơ không chịu lìa bà.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Bấy giờ họ lại khóc lớn tiếng, rồi Ọt-pa ôm hôn từ giã mẹ chồng của nàng, nhưng Ru-tơ cứ bám theo bà.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Bấy giờ họ lại khóc lớn tiếng nữa. Rồi Ọt-ba ôm hôn và từ giã mẹ chồng mình, nhưng Ru-tơ cứ bám lấy bà.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Họ lại cùng oà khóc. Rồi Ọt-ba hôn và từ giã Na-ô-mi, mẹ chồng mình, nhưng Ru-tơ vẫn khăng khăng không chịu rời Na-ô-mi.

Vajtswv Txojlus (HWB)

15Yog li ntawd, Na-aumis thiaj hais rau Luv hais tias, “Luv, Aulepas twb rov qab mus nrog nws haivneeg thiab nws tus vajtswv nyob lawm. Koj cia li nrog nws rov qab mus thiab.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Na-ô-mi nói cùng Ru-tơ rằng: Nầy, chị con đã trở về quê hương và thần của nó; con hãy trở về theo nó đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Na-ô-mi nói với Ru-tơ: “Nầy, chị con đã trở về quê hương và các thần của nó. Con hãy theo nó mà về đi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Na-ô-mi nói với nàng, “Này, em dâu của con đã trở về với dân của nó và với các thần của nó rồi; con cũng hãy trở về như em dâu của con đi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

15Na-ô-mi bèn nói: “Con xem đó, chị dâu con đã trở về cùng dân tộc nó và cùng các thần của nó; con cũng hãy đi theo chị dâu con đi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

15Na-ô-mi bảo Ru-tơ, “Kìa, chị em bạn dâu của con đã trở về với dân tộc và thần của nó. Con hãy theo nó đi.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

16Tiamsis Luv teb hais tias, “Tsis txhob txwv kuv! Cia kuv nrog koj mus. Koj mus qhov twg, kuv yeej yuav nrog koj mus qhov ntawd; koj nyob qhov twg, kuv yuav nrog koj nyob qhov ntawd. Koj haivneeg yuav yog kuv haivneeg thiab koj tus Vajtswv yuav yog kuv tus Vajtswv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Ru-tơ thưa rằng: Xin chớ nài tôi phân rẽ mẹ; vì mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân sự của mẹ, tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Nhưng Ru-tơ thưa:“Xin đừng ép con lìa bỏ mẹHoặc quay trở về!Mẹ đi đâu con sẽ đi theo đó;Mẹ ở nơi nào con sẽ ở nơi đó.Dân tộc của mẹ là dân tộc của con;Đức Chúa Trời của mẹ là Đức Chúa Trời của con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Nhưng Ru-tơ đáp, “Xin mẹ đừng ép con rời xa mẹ hay bắt con phải trở về mà không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con sẽ theo đó; mẹ ở nơi nào, con sẽ ở nơi đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con. Ðức Chúa Trời của mẹ là Ðức Chúa Trời của con.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Nhưng Ru-tơ đáp: “Xin mẹ đừng ép con rời xa mẹ, hay bắt con phải trở về mà không theo mẹ. Vì mẹ đi đâu, con sẽ theo đó. Mẹ ở nơi nào, con cũng sẽ ở nơi đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con, Đức Chúa Trời của mẹ là Đức Chúa Trời của con.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Nhưng Ru-tơ thưa, “Xin đừng ép con rời mẹ hay xa mẹ. Mẹ đi đâu, con sẽ theo đó. Mẹ sống nơi nào, con muốn sống nơi đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con, Thượng Đế mẹ sẽ là Thượng Đế của con.

Vajtswv Txojlus (HWB)

17Koj tuag rau qhov twg, kuv yuav tuag qhov ntawd, thiab cia luag muab kuv faus nrog koj rau qhov ntawd. Tsuas yog txojkev tuag thiaj yuav ua rau kuv ncaim ntawm koj xwb, yog kuv cia ib yam dabtsi ua rau kuv ncaim koj mus, thov kom tus TSWV rau txim rau kuv!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17mẹ thác nơi nào, tôi muốn thác và được chôn nơi đó. Ví bằng có sự chi khác hơn sự chết phân cách tôi khỏi mẹ, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Mẹ chết nơi nào, con cũng muốn chếtVà được chôn nơi đó.Trừ cái chết ra,Nếu vì lý do nào khác khiến con lìa bỏ mẹ,Nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa trên con!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Mẹ chết nơi nào, con cũng muốn chết và được chôn nơi đó. Ví bằng có điều chi ngoài cái chết phân cách con với mẹ, nguyện CHÚA giáng họa trên con.”

Bản Dịch Mới (NVB)

17Mẹ chết nơi nào, con cũng muốn chết và được chôn nơi đó. Ngoài sự chết, ví bằng có điều chi phân cách con với mẹ, nguyện xin CHÚA giáng họa trên con.”

Bản Phổ Thông (BPT)

17Mẹ chết ở đâu, con cũng muốn chết và được chôn nơi đó. Nếu không phải vì cái chết phân rẽ mẹ và con thì cầu CHÚA phạt con thật nặng.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

18Thaum Na-aumis pom hais tias, Luv muaj pluaj siab nrog nws mus tiag, nws txawm tsis hais dabtsi ntxiv li lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Na-ô-mi thấy nàng quyết định theo mình, nên không nói nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Na-ô-mi thấy nàng cương quyết đi theo mình thì không nói nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Khi Na-ô-mi thấy Ru-tơ đã cương quyết theo bà, bà không nói thêm với nàng điều gì nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Khi Na-ô-mi thấy Ru-tơ đã quyết chí theo mình, bà không nói thêm với nàng một điều gì nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Thấy Ru-tơ nhất quyết theo mình, Na-ô-mi không khuyên nữa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

19Nkawd txawm ua ke los txog rau hauv lub nroog Npelehees. Thaum nkawd los txog hauv lub nroog, tej neeg zoo siab kawg, thiab tej pojniam sib nug zom zaws hais tias, “Tus no puas yog Na-aumis?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Vậy, hai người đi đến Bết-lê-hem. Khi hai người đến, cả thành đều cảm động. Các người nữ hỏi rằng: Ấy có phải Na-ô-mi chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Vậy hai người đi đến Bết-lê-hem. Khi họ đến Bết-lê-hem, cả thành đều xôn xao. Các phụ nữ hỏi: “Có phải Na-ô-mi đấy không?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Vậy hai người lên đường đi về Bết-lê-hem. Khi họ vừa đến Bết-lê-hem, cả thành đều xôn xao vì hai người. Các bà hỏi nhau, “Có phải đây là Na-ô-mi chăng?”

Bản Dịch Mới (NVB)

19Vậy hai người lên đường đi về Bết-lê-hem. Khi họ vừa đến Bết-lê-hem, cả thành đều xôn xao về hai người. Các bà hỏi nhau: “Có phải đây là Na-ô-mi chăng?”

Bản Phổ Thông (BPT)

19Na-ô-mi và Ru-tơ tiếp tục đi cho đến khi tới thành Bết-lê-hem. Vào thành thì mọi người trong thành đều xúc động. Các người đàn bà hỏi, “Đây có phải thật là Na-ô-mi không?”

Vajtswv Txojlus (HWB)

20Nws teb hais tias, “Nej tsis txhob hu kuv ua Na-aumis lawm, nej hu kuv ua Malas xwb, rau qhov Vajtswv tus uas muaj Hwjchim loj kawg nkaus tau ua rau kuv lub neej raug kev txomnyem lwj siab kawg li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Người đáp: Chớ gọi tôi là Na-ô-mi, hãy gọi là Ma-ra, vì Đấng Toàn Năng đã đãi tôi cách cay đắng lắm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Bà trả lời họ:“Đừng gọi tôi là Na-ô-miMà hãy gọi tôi là Ma-ra,Vì Đấng Toàn Năng đã khiến tôi chịu nhiều cay đắng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Na-ô-mi đáp, “Xin đừng gọi tôi là Na-ô-mi nữa, nhưng hãy gọi tôi là Ma-ra, vì Ðấng Toàn Năng đã đãi tôi cách đắng cay.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Na-ô-mi đáp: “Xin đừng gọi tôi là Na-ô-mi nữa, nhưng hãy gọi tôi là Ma-ra, vì Đấng Toàn Năng đã đãi tôi cách đắng cay.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Na-ô-mi đáp, “Đừng gọi tôi là Na-ô-mi nữa mà gọi là Ma-ra vì Đấng Toàn Năng khiến đời tôi bi thảm lắm.

Vajtswv Txojlus (HWB)

21Thaum kuv tawm hauv no mus, kuv muaj txhua yam nplua mias, tiamsis tus TSWV coj kuv rov los tes dawb tes npliag. Vim li cas nej tseem hu kuv ua Na-aumis, thaum tus TSWV uas muaj Hwjchim loj kawg nkaus rau txim thiab tso kev txomnyem los rau kuv?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Tôi đi ra được đầy dẫy, nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không. Đức Giê-hô-va đã giáng họa cho tôi, và Đấng Toàn Năng khiến tôi bị khốn khổ, vậy còn gọi tôi là Na-ô-mi làm chi?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Tôi ra đi với của cải dư đầy,Nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không.Đức Giê-hô-va đã lên án tôiVà Đấng Toàn Năng khiến tôi chịu nhiều khốn khổ.Sao còn gọi tôi là Na-ô-mi làm gì?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Tôi đã ra đi cách đầy dẫy, nhưng nay CHÚA đem tôi về tay không. Tại sao còn gọi tôi là Na-ô-mi làm chi, trong khi CHÚA đã đãi tôi cách khắc nghiệt, và Ðấng Toàn Năng đã giáng họa trên tôi?”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Tôi ra đi đầy dẫy, nhưng CHÚA đã đem tôi về tay không. Tại sao còn gọi tôi là Na-ô-mi làm chi, trong khi CHÚA đã đãi tôi cách khắc nghiệt, và Đấng Toàn Năng đã giáng họa trên tôi?”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Khi ra đi tôi có đủ thứ, mà bây giờ CHÚA dẫn tôi về tay không. Vậy thì gọi tôi là Na-ô-mi làm gì khi CHÚA đã hại tôi và Đấng Toàn Năng đã gây cho tôi bao nhiêu khốn khổ?”

Vajtswv Txojlus (HWB)

22Zaj no yog hais txog Na-aumis thiab Luv uas yog nws tus nyab uas yog neeg Mau-am, rov nram tebchaws Mau-am los. Thaum nkawd los txog hauv lub nroog Npelehees tabtom yog lub caij uas pib hlais nplej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Na-ô-mi và Ru-tơ, người Mô-áp, dâu của Na-ô-mi, từ ở xứ Mô-áp trở về là như vậy. Hai người đến Bết-lê-hem nhằm đầu mùa gặt lúa mạch.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Thế là Na-ô-mi cùng với con dâu là Ru-tơ, người Mô-áp, từ xứ Mô-áp trở về. Hai người đến Bết-lê-hem vào đầu mùa gặt lúa mạch.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Vậy Na-ô-mi và Ru-tơ cô dâu người Mô-áp của bà từ đồng bằng xứ Mô-áp trở về. Họ đến Bết-lê-hem nhằm vào đầu mùa gặt.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Vậy, Na-ô-mi cùng với Ru-tơ, con dâu mình là người Mô-áp, từ nước Mô-áp trở về. Họ đến Bết-lê-hem nhằm đầu mùa gặt.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Na-ô-mi và Ru-tơ, người Mô-áp, con dâu mình, từ xứ Mô-áp trở về Bết-lê-hem nhằm lúc đầu mùa gặt lúa mạch.