So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Klei Aê Diê Blŭ(RRB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

1Khua Yang bi êdah kơ Y-Abraham ti ana kyâo ti Mamrê, êjai ñu dôk gŭ ti ƀăng bhă mŭt sang čhiăm hlăk adiê mđiă.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Đức Giê-hô-va hiện ra cùng Áp-ra-ham nơi lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, đương khi ngồi nơi cửa trại lúc trời nắng ban ngày.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Đức Giê-hô-va hiện ra với Áp-ra-ham gần các cây sồi của Mam-rê, khi ông đang ngồi nơi cửa trại vào lúc trời nắng gắt trong ngày.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1 CHÚA hiện ra với Áp-ra-ham nơi đám sồi của Mam-rê. Vào một ngày rất nóng bức kia, ông đang ngồi trước cửa lều của ông;

Bản Dịch Mới (NVB)

1CHÚA xuất hiện gặp Áp-ra-ham cạnh các cây sồi ở Mam-rê khi ông đang ngồi tại cửa trại vào một ngày trời nắng nóng.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Sau đó CHÚA lại hiện ra cùng Áp-ra-ham gần các cây sồi lớn tại Mam-rê. Áp-ra-ham đang ngồi nơi cửa lều mình lúc trời đang nắng gắt.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

2 Ñu kngưr ală dlăng leh anăn nĕ anei, mâo tlâo čô mnuih dôk dơ̆ng ti anăp ñu. Tơdah ñu ƀuh digơ̆, ñu êran nao bi tuôm hŏng digơ̆ mơ̆ng ƀăng bhă sang čhiăm leh anăn buôn kŭp ti lăn.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Áp-ra-ham nhướng mắt lên, thấy ba người đứng trước mặt. Vừa khi thấy, bèn bắt từ cửa trại chạy đến trước mặt ba người đó, sấp mình xuống đất,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Áp-ra-ham ngước mắt lên, thấy ba người đứng trước mặt mình. Vừa thấy họ, ông liền từ cửa trại chạy ra đón và quỳ sấp mặt xuống đất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2 khi ngước nhìn lên, ông thấy ba người đàn ông đang đứng gần đó. Vừa thấy họ, ông liền từ cửa lều chạy ra chào họ. Ông sấp mình xuống đất trước mặt họ

Bản Dịch Mới (NVB)

2Vừa ngước mắt nhìn lên, ông thấy ba người đến gần mình, ông liền rời cửa trại chạy ra nghênh đón và cúi đầu.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Ông ngước lên thấy ba người đứng trước mặt mình. Khi thấy họ, Áp-ra-ham liền từ cửa trại chạy ra chào đón. Ông cúi mọp mình xuống đất trước mặt họ

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

3Ñu lač, “Ơ Khua Yang kâo, tơdah ih mơak hŏng kâo, đăm đuĕ ôh mơ̆ng kâo, dĭng buăl ih.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3và thưa rằng: Lạy Chúa, nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin hãy ghé lại nhà kẻ tôi tớ Chúa, đừng bỏ đi luôn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Ông nói: “Thưa chúa, nếu tôi được ơn trước mặt chúa, xin đừng bỏ qua đầy tớ Chúa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3 và nói, “Thưa Ngài, nếu tôi được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài đừng vội bỏ tôi tớ Ngài mà tiếp tục lên đường,

Bản Dịch Mới (NVB)

3Áp-ra-ham thưa: “Thưa Chúa, nếu tôi được ơn dưới mắt Chúa, xin đừng bỏ qua đầy tớ Chúa.

Bản Phổ Thông (BPT)

3nói, “Thưa quí ông, nếu quí ông cho là phải thì xin lưu lại đây với tôi, kẻ tôi tớ quí ông.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

4Kâo brei arăng mă ba êa ƀiă rao jơ̆ng diih, leh anăn mdei bĕ diih ti gŭ ana kyâo,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Xin các đấng hãy cho phép người ta lấy chút nước rửa chân các đấng, và xin hãy nằm nghỉ mát dưới cội cây nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Xin cho tôi lấy ít nước, mời quý ngài rửa chân rồi nằm nghỉ dưới bóng cây nầy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4 nhưng xin mời Các Ngài nghỉ mát dưới bóng cây nầy một lát, để tôi mang ra ít nước cho Các Ngài rửa chân.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Xin cho tôi đem một ít nước các vị rửa chân và kính mời các vị nghỉ mát dưới bóng cây.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Tôi sẽ mang nước để quí ông rửa chân. Quí ông sẽ nằm nghỉ dưới gốc cây,

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

5êjai kâo mă ba mnơ̆ng ƀơ̆ng huă čiăng lŏ bi mơai diih; leh anăn kơh diih dưi lŏ nao, kyua klei anăn diih hriê leh kơ kâo dĭng buăl diih.” Digơ̆ lač, “Ngă bĕ tui si ih lač leh.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Tôi sẽ đi đem một miếng bánh cho các đấng ăn vững lòng, rồi sẽ dời gót lên đường; vì cớ ấy, nên mới quá bộ lại nhà kẻ tôi tớ các đấng vậy. Các đấng phán rằng: Hãy cứ việc làm như ngươi đã nói.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Dù gì quý ngài cũng đã quá bộ đến nhà đầy tớ rồi, xin cho phép tôi đem một ít bánh để quý ngài lót dạ rồi hãy lên đường.” Các vị ấy nói: “Hãy cứ làm như điều ông nói.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5 Xin để tôi mang ra một ít bánh để Các Ngài dùng cho vững bụng, rồi sau đó Các Ngài sẽ tiếp tục lên đường, vì Các Ngài đã chiếu cố đến thăm tôi tớ của Các Ngài.” Họ đáp, “Hãy làm như điều ngươi vừa nói.”

Bản Dịch Mới (NVB)

5Cho tôi lấy bánh để các vị ăn lót lòng rồi sẽ lên đường, vì các vị đã hạ cố đến thăm nhà đầy tớ Chúa.” Ba người ấy đáp: “Tốt lắm, ông cứ làm theo như ông nói.”

Bản Phổ Thông (BPT)

5rồi tôi sẽ mang ít bánh để quí ông dùng cho lại sức. Sau đó quí ông sẽ lên đường.”Ba người đó bảo, “Được, hãy làm theo như con nói.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

6Y-Abraham ruăt mŭt hlăm sang čhiăm, lač kơ H'Sara, “Mkra djăl tlâo hnơ̆ng kpŭng ƀhĭ, mmai, leh anăn ngă bĕ ƀêñ.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Đoạn, Áp-ra-ham lật đật vào trại đến cùng Sa-ra mà rằng: Hãy mau mau lấy ba đấu bột lọc nhồi đi, rồi làm bánh nhỏ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Áp-ra-ham vội vàng trở về trại, đến nói với Sa-ra: “Hãy mau lấy hai mươi ký tinh bột, nhồi và làm bánh đi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6 Áp-ra-ham vội vàng đi vào lều của Sa-ra và nói, “Em hãy lấy ba lường bột hảo hạng, đem nhồi liền, và làm bánh đãi khách.”

Bản Dịch Mới (NVB)

6Áp-ra-ham vội vã vào trại bảo Sa-ra: “Mau lên, lấy ba đấu bột lọc nhồi cho nhuyễn rồi làm bánh đi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

6Áp-ra-ham vội vàng về trại bảo Sa-ra, “Hãy mau mau lấy hai mươi lít bột mịn làm bánh đi.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

7Y-Abraham êran mă ba sa drei êđai êmô mda leh anăn jăk, leh anăn brei kơ sa čô dĭng buăl ñu; pô anăn mkra čĭm mtam.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Áp-ra-ham bèn chạy lại bầy, bắt một con bò con ngon, giao cho đầy tớ mau mau nấu dọn;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Áp-ra-ham chạy đến chỗ bầy gia súc, bắt một con bê béo tốt, giao cho đầy tớ để nhanh chóng nấu dọn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7 Xong Áp-ra-ham chạy đến bầy súc vật, bắt một con bê thịt mềm và ngon giao cho một đầy tớ, và bảo phải làm thịt cho lẹ.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Áp-ra-ham chạy thẳng đến bầy gia súc, chọn một con bê béo, giao cho đầy tớ nấu dọn gấp.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Rồi Áp-ra-ham ra bầy bắt một con bò con tốt nhất. Ông giao cho đầy tớ bảo giết thịt chuẩn bị thức ăn gấp.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

8Ñu mă ba prăi ƀơr, êa ksâo êmô leh anăn čĭm êmô arăng mkra leh, mdơ̆ng kơ digơ̆. Êjai digơ̆ ƀơ̆ng, ñu pô dôk dơ̆ng ti djiêu digơ̆ ti gŭ ana kyâo.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8rồi lấy mỡ sữa và sữa cùng con bò con đã nấu xong, dọn ngay trước mặt các đấng; còn người thì đứng hầu trước mặt, dưới cội cây. Vậy các đấng đó bèn ăn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Ông đem sữa tươi, sữa chua và thịt bê đã nấu xong, dọn ra trước mặt các vị ấy. Trong lúc họ ăn, ông đứng hầu dưới bóng cây.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8 Ðoạn ông lấy bơ, sữa, và thịt con bê đã nấu chín dọn ra trước mặt các đấng ấy; rồi ông đứng hầu dưới bóng cây trong khi khách dùng bữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Áp-ra-ham đem sữa và bơ cùng thịt con bê đã nấu xong, dọn ra trước mặt ba người ấy rồi đứng gần bàn dưới tàng cây.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Áp-ra-ham thết ba người khách thịt bò con đã được nấu trong sữa và bơ. Đang khi họ ăn thì ông đứng hầu dưới gốc cây gần đó.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

9Digơ̆ êmuh ñu, “Ti H'Sara mô̆ ih?” Ñu lŏ wĭt lač, “Nŏ tinăn, ñu dôk hlăm sang čhiăm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Các đấng hỏi Áp-ra-ham rằng: Sa-ra, vợ ngươi, ở đâu? Đáp rằng: Kìa, nàng ở trong trại kia.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Các vị ấy hỏi Áp-ra-ham: “Sa-ra vợ của con đâu?” Ông thưa: “Kìa, nàng đang ở trong trại.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9 Các đấng ấy hỏi ông, “Sa-ra vợ ngươi đâu?”Ông đáp, “Thưa, nàng đang ở trong lều kia.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Trong khi đang ăn, họ hỏi Áp-ra-ham: “Sa-ra vợ ngươi ở đâu?” Áp-ra-ham thưa: “Nàng ở trong trại.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Các người khách hỏi Áp-ra-ham, “Sa-ra vợ con đâu?”Áp-ra-ham đáp, “Nàng ở trong trại đàng kia.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

10 Sa čô hlăm phung digơ̆ lač, “Sĭt nik kâo srăng lŏ hriê kơ ih yan anei thŭn êdei, leh anăn H'Sara mô̆ ih srăng mâo sa čô anak êkei.” H'Sara dôk hmư̆ hlăm lam ti ƀăng bhă sang čhiăm ti tluôn Ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Một đấng nói rằng: Trong độ một năm nữa, ta sẽ trở lại đây với ngươi không sai, và chừng đó, Sa-ra, vợ ngươi, sẽ có một con trai. Sa-ra ở nơi cửa trại sau lưng đấng đó, nghe các lời nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Một vị nói: “Khoảng thời gian nầy năm sau, ta chắc chắn sẽ trở lại đây với con, và lúc ấy Sa-ra, vợ con, sẽ có một con trai.” Sa-ra nghe được lời đó tại cửa trại, sau lưng vị ấy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10 Một đấng nói, “Khoảng một năm nữa, Ta sẽ trở lại đây thăm ngươi, khi ấy Sa-ra vợ ngươi sẽ có một con trai.” Bấy giờ Sa-ra đang ngồi nơi cửa lều ở phía sau và nghe thoáng được điều đó –

Bản Dịch Mới (NVB)

10Một vị bảo: “Độ một năm nữa, Ta sẽ trở lại đây thăm con. Khi đó, Sa-ra, vợ con sẽ có một con trai.” Sa-ra đứng nghe tại cửa trại sau lưng vị ấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Một trong các người khách bảo, “Vào ngày nầy năm tới ta sẽ chắc chắn trở lại thăm con. Lúc đó Sa-ra sẽ có một con trai.”Sa-ra đang nghe lén nơi cửa trại sau lưng Áp-ra-ham.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

11Y-Abraham leh anăn H'Sara mduôn yuh leh, leh anăn H'Sara amâo lŏ ôh čang hmăng mâo anak ôh tui si bhiăn phung mniê.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Vả, Áp-ra-ham cùng Sa-ra đã già, tuổi tác đã cao; Sa-ra không còn chi nữa như thế thường người đàn bà.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Cả Áp-ra-ham và Sa-ra đều đã già, tuổi đã cao. Sa-ra không còn khả năng sinh sản.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11 Lúc ấy cả Áp-ra-ham và Sa-ra đều đã già và cao tuổi. Sa-ra đã qua thời kỳ sinh sản của các phụ nữ trẻ–

Bản Dịch Mới (NVB)

11Áp-ra-ham đã già và Sa-ra đều tuổi đã cao. Sa-ra đã quá tuổi sinh sản.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Cả Áp-ra-ham lẫn Sa-ra đều đã già. Vì Sa-ra đã quá tuổi sinh sản bình thường,

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

12 H'Sara tlao hlăm ai tiê ñu, lač, “Kâo mduôn leh, leh anăn ung kâo mduôn mơh; si kâo lŏ dưi dôk hŏng ung kâo?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Sa-ra cười thầm mà rằng: Già như tôi thế nầy, dễ còn được điều vui đó sao? Còn chúa tôi cũng đã già rồi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Vì thế, Sa-ra cười thầm và tự nhủ: “Già như tôi thế nầy mà còn được hưởng niềm vui đó sao? Hơn nữa, chúa tôi cũng đã già rồi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12 Sa-ra cười thầm và tự nhủ, “Mình đã già rồi, chồng mình cũng đã già rồi, lẽ nào mình còn có niềm vui làm mẹ được sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

12Sa-ra cười thầm tự bảo: “Già như tôi mà còn được niềm vui làm mẹ nữa sao! Chúa tôi cũng đã quá già rồi!”

Bản Phổ Thông (BPT)

12nên bà cười thầm và tự nhủ, “Hai vợ chồng tôi già rồi làm sao mà sinh con được!”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

13Khua Yang lač kơ Y-Abraham, “Si ngă H'Sara tlao leh anăn lač, ‘Sĭt mơ̆ kâo srăng mâo sa čô anak tơdah kâo mduôn leh?’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Đức Giê-hô-va phán hỏi Áp-ra-ham rằng: Cớ sao Sa-ra cười như vậy mà rằng: Có quả thật rằng tôi già đến thế nầy lại còn sanh sản chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Đức Giê-hô-va hỏi Áp-ra-ham: “Tại sao Sa-ra cười và nghĩ rằng: ‘Có thật tôi già thế nầy mà vẫn sinh con được sao?’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13 CHÚA hỏi Áp-ra-ham, “Tại sao Sa-ra cười và nói, ‘Nay tôi đã già, lẽ nào tôi sẽ sinh con được sao?’

Bản Dịch Mới (NVB)

13CHÚA hỏi Áp-ra-ham: “Tại sao Sa-ra cười và nói: ‘Già cả như tôi thể này mà thật còn sinh sản được sao?’

Bản Phổ Thông (BPT)

13CHÚA hỏi Áp-ra-ham, “Tại sao Sa-ra cười? Tại sao nàng bảo, ‘Tôi già rồi làm sao sinh con được?’

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

14 Mâo mơ̆ sa mta klei dleh đei tơl Khua Yang amâo dưi ngă ôh? Tui si yan bi kčah leh kâo srăng lŏ hriê kơ ih thŭn êdei, leh anăn H'Sara srăng mâo sa čô anak êkei.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng? Đến kỳ đã định, trong một năm nữa, ta sẽ trở lại cùng ngươi, và Sa-ra sẽ có một con trai.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Có điều gì quá khó cho Đức Giê-hô-va không? Đến kỳ đã định, năm sau Ta sẽ trở lại với con, và Sa-ra sẽ có một con trai.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14 Có gì quá khó cho CHÚA chăng? Ðến thời điểm đã định, khoảng một năm nữa, Ta sẽ trở lại thăm ngươi, khi ấy Sa-ra sẽ có một con trai.”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Có điều gì quá khó cho CHÚA không? Đúng kỳ ấn định, trong một năm nữa, Ta sẽ trở lại thăm con, lúc ấy Sa-ra sẽ có một con trai.”

Bản Phổ Thông (BPT)

14Có việc gì quá khó đối với CHÚA không? Vào ngày nầy năm tới, ta sẽ trở lại. Sa-ra sẽ có một con trai.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

15Ƀiădah H'Sara hngah, lač, “Kâo amâo tuôm tlao ôh”, kyuadah gơ̆ huĭ. Ƀiădah Khua Yang lač “Hơăi, ih tlao leh yơh.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Vì Sa-ra sợ, nên chối mà thưa rằng: Tôi có cười đâu! Nhưng Ngài phán rằng: Thật ngươi có cười đó!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Vì sợ nên Sa-ra chối rằng: “Con có cười đâu!” Nhưng Ngài phán: “Thật con đã cười!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15 Nhưng Sa-ra chối rằng, “Tôi đâu có cười,” vì bà sợ.Ngài phán, “Không, ngươi thật đã cười đó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

15Sa-ra sợ hãi, chối rằng: “Con có cười đâu!” Chúa đáp: “Thật con đã có cười!”

Bản Phổ Thông (BPT)

15Sa-ra sợ nên chối, “Tôi có cười đâu.”Nhưng CHÚA bảo, “Con thật có cười đó.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

16Phung êkei anăn kgŭ dơ̆ng nao, leh anăn dlăng phă ƀuôn Sôdôm. Y-Abraham nao mbĭt, čiăng atăt diñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Các đấng đều đứng dậy mà đi, ngó về phía Sô-đôm. Áp-ra-ham cũng theo để tiễn bước các đấng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Các vị ấy đứng dậy, rời khỏi đó và nhìn về hướng Sô-đôm. Áp-ra-ham cũng đi theo để tiễn bước họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16 Sau đó các đấng ấy đứng dậy khỏi chỗ đó và nhìn về hướng Sô-đôm; Áp-ra-ham đi theo họ để tiễn họ lên đường.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Các vị đứng dậy lên đường hướng về Sô-đôm. Áp-ra-ham theo tiễn chân họ đi.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Các người khách đứng dậy ra về theo hướng Xô-đôm. Áp-ra-ham cùng đi với họ một khoảng để tiễn đưa.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

17Khua Yang lač kơ ñu pô, “Kâo srăng mdăp mơ̆ kơ Y-Abraham si klei kâo srăng ngă?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Đức Giê-hô-va phán rằng: Lẽ nào ta giấu Áp-ra-ham điều chi ta sẽ làm sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Đức Giê-hô-va nói: “Lẽ nào Ta giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17 CHÚA phán, “Ta có nên giấu Áp-ra-ham những gì Ta sắp làm chăng?

Bản Dịch Mới (NVB)

17CHÚA nói: “Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sẽ làm không?

Bản Phổ Thông (BPT)

17CHÚA bảo, “Ta có nên giấu Áp-ra-ham biết điều ta sắp làm không?

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

18Kyuadah Y-Abraham srăng jing sa phung găp djuê prŏng leh anăn ktang, leh anăn jih jang phung găp djuê hlăm lăn ala srăng mâo klei jăk jĭn hlăm ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Vì Áp-ra-ham chắc sẽ được trở nên một dân lớn và cường thạnh; các dân tộc trên thế gian đều sẽ nhờ người mà được phước.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Áp-ra-ham chắc chắn sẽ thành một dân lớn và hùng mạnh; tất cả các dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ người mà được phước.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18 Này Áp-ra-ham sẽ trở thành một dân lớn và mạnh, mọi nước trên thế gian sẽ nhờ nó mà được phước.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Áp-ra-ham sẽ thành một dân tộc lớn, hùng cường và mọi dân tộc trên thế giới sẽ nhờ người mà được phước.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Áp-ra-ham chắc hẳn sẽ trở thành một dân lớn và hùng cường. Các dân tộc trên đất sẽ nhờ người nầy mà được phước.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

19Hơăi, kyuadah kâo ruah ñu leh, čiăng kơ ñu mtă kơ phung anak ñu leh anăn kơ sang ñu kơ êdei, čiăng diñu djă pioh êlan Khua Yang hŏng klei ngă klei kpă ênô leh anăn klei djŏ, čiăng kơ Khua Yang dưi bi sĭt klei ñu ƀuăn leh kơ Y-Abraham.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Ta đã chọn người đặng người khiến dạy các con cùng nội nhà người giữ theo đạo Đức Giê-hô-va, làm các điều công bình và ngay thẳng; thế thì, Đức Giê-hô-va sẽ làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã hứa cùng Áp-ra-ham.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Ta đã chọn người để truyền dạy con cái và dòng dõi người sau nầy gìn giữ đường lối của Đức Giê-hô-va bằng cách làm điều công chính và ngay thẳng, để Đức Giê-hô-va thực hiện điều Ngài đã hứa với Áp-ra-ham.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19 Vì Ta biết nó; nó sẽ dạy bảo con cái nó và những người nhà nó sau này giữ theo đường lối CHÚA, mà sống ngay lành và thi hành công lý, để CHÚA sẽ thực hiện cho Áp-ra-ham những gì Ngài đã hứa với nó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

19Vì Ta đã chọn Áp-ra-ham để người hướng dẫn con cháu và gia nhân theo người vâng giữ đường lối của CHÚA, làm điều phải và công chính, để CHÚA có thể thực hiện các lời Ngài đã hứa với Áp-ra-ham.”

Bản Phổ Thông (BPT)

19Ta đã chọn Áp-ra-ham để khuyên dạy con cháu và dòng dõi mình sống theo ý muốn Thượng Đế, tức là sống phải lẽ. Rồi ta, là CHÚA, sẽ ban cho Áp-ra-ham điều ta đã hứa.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

20Leh anăn Khua Yang lač, “Kyuadah klei ur krao kčŭt kơ ƀuôn Sôđôm leh anăn ƀuôn Gômôrơ jing ktang leh anăn klei soh diñu prŏng snăk,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Đức Giê-hô-va phán rằng: Tiếng kêu oan về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật là quá, tội lỗi các thành đó thật là trọng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Đức Giê-hô-va phán: “Tiếng than trách về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật quá lớn, tội lỗi các thành đó thật nghiêm trọng!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20 Ðoạn CHÚA phán, “Tiếng kêu gào nghịch lại Sô-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn! Tội của chúng quá nặng!

Bản Dịch Mới (NVB)

20Bấy giờ CHÚA bảo Áp-ra-ham: “Tiếng than oán về Sô-đôm và Gô-mô-rơ quá lớn, tội ác chúng nó thật trầm trọng.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Rồi CHÚA bảo, “Ta đã nghe nhiều tiếng kêu than về dân cư hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ. Chúng nó rất gian ác.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

21kâo srăng trŭn leh anăn dlăng thâodah diñu ngă jih tui si klei ur krao truh leh kơ kâo. Tơdah amâo djŏ snăn ôh, kâo srăng thâo.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Ta muốn ngự xuống, để xem xét chúng nó ăn ở có thật như tiếng đã kêu thấu đến ta chăng; nếu chẳng thật, thì ta sẽ biết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Ta phải ngự xuống để xem chúng có làm như tiếng đã kêu thấu đến Ta không. Có hay không thì Ta sẽ biết.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21 Ta phải đích thân ngự xuống để xem có đúng như tiếng kêu gào đã thấu đến Ta chăng. Thật hư thế nào, Ta sẽ rõ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Ta sẽ xuống đó xem có đúng như tiếng than vãn đã thấu đến Ta không. Nếu không thì Ta sẽ biết.”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Ta sẽ đi xuống xem thử có phải quả thật chúng xấu như thế chăng. Nếu không, ta sẽ biết.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

22Phung êkei anăn đuĕ leh anăn nao phă ƀuôn Sôdôm. Ƀiădah Y-Abraham ăt dôk dơ̆ng ti anăp Khua Yang.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Vậy, các đấng bèn từ đó đi qua hướng Sô-đôm; nhưng Áp-ra-ham hãy còn đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Vậy, các vị từ đó đi về phía Sô-đôm, nhưng Áp-ra-ham vẫn đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22 Hai đấng kia quay bước rời nơi ấy và tiến về Sô-đôm, nhưng CHÚA vẫn còn đứng đó với Áp-ra-ham.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Các người ấy quay đi về hướng Sô-đôm, nhưng Áp-ra-ham còn đứng lại trước mặt CHÚA.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Vậy các người đó quay đi về hướng Xô-đôm. Nhưng Áp-ra-ham còn đứng đó trước mặt CHÚA.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

23Y-Abraham nao giăm, lač, “Ih srăng bi rai mơ̆ phung kpă ênô mbĭt hŏng phung ƀai?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Áp-ra-ham lại gần và thưa rằng: Chúa sẽ diệt người công bình luôn với người độc ác sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Áp-ra-ham đến gần và thưa: “Chúa sẽ tiêu diệt cả người công chính lẫn người gian ác sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23 Áp-ra-ham lại gần và thưa, “Chẳng lẽ Ngài sẽ diệt sạch cả người ngay lành luôn với kẻ gian ác sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

23Áp-ra-ham đến gần Chúa và hỏi: “Chúa tiêu diệt người công chính chung với người ác sao?

Bản Phổ Thông (BPT)

23Áp-ra-ham đến gần CHÚA thưa, “CHÚA dự định tiêu diệt người tốt cùng với người ác sao?

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

24Bi tơdah mâo êma pluh čô kpă ênô hlăm ƀuôn anăn, ih srăng bi rai mơ̆ amâo pap brei ôh kơ anôk anăn kyua êma pluh čô kpă ênô hlăm anăn?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Ngộ trong thành có năm mươi người công bình, Chúa cũng sẽ diệt họ hết sao? Há chẳng tha thứ cho thành đó vì cớ năm mươi người công bình ở trong sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Giả sử trong thành có năm mươi người công chính thì Ngài cũng sẽ tiêu diệt hết sao? Chẳng lẽ Ngài không vì năm mươi người công chính ở trong thành mà tha thứ cho thành đó sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24 Giả sử có năm mươi người ngay lành trong thành, chẳng lẽ Ngài sẽ diệt sạch nơi ấy, mà không chừa nó lại vì cớ năm mươi người ngay lành trong đó sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

24Nếu có năm mươi người công chính trong thành thì sao? Chúa sẽ tiêu diệt hay Chúa sẽ dung thứ họ vì năm mươi người công chính ở giữa họ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

24Nếu trong thành có năm mươi người tốt thì CHÚA cũng tiêu diệt thành sao? Chắc hẳn CHÚA sẽ không tiêu diệt thành vì có năm mươi người tốt sinh sống ở đó.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

25Ih amâo ngă snăn ôh, bi mdjiê phung kpă ênô mbĭt hŏng phung ƀai. Tơdah snăn klei truh kơ phung kpă ênô jing msĕ si klei truh kơ phung ƀai. Ih amâo ngă snăn ôh, hơăi. Amâo djŏ hĕ Khua Phat Kđi jih lăn ala srăng ngă klei djŏ?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Không lẽ nào Chúa làm điều như vậy, diệt người công bình luôn với kẻ độc ác; đến đỗi kể người công bình cũng như người độc ác. Không, Chúa chẳng làm điều như vậy bao giờ! Đấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Không bao giờ Chúa làm như vậy! Chẳng lẽ Chúa tiêu diệt người công chính chung với kẻ gian ác, xem người công chính cũng như kẻ gian ác sao? Không bao giờ Chúa làm như vậy! Đấng phán xét toàn thế gian lại không thực thi công lý sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25 Chắc chắn Ngài không làm một việc như thế bao giờ. Giết người ngay lành chung với phường gian ác, và để người ngay lành bị hình phạt chung với kẻ gian ác; nguyện Ngài sẽ không bao giờ làm như thế. Lẽ nào Ðấng Phán Xét cả thế gian lại không thực thi công lý sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

25“Chúa không bao giờ làm việc ấy! Không bao giờ Chúa diệt người công chính chung với kẻ ác! Không bao giờ Chúa đối xử với người công chính cũng giống như các người ác. Không thể như vậy! Vị thẩm phán tối cao của cả thế giới không xử đoán công minh sao.”

Bản Phổ Thông (BPT)

25Chắc CHÚA sẽ không tiêu diệt người tốt cùng với người xấu? Nếu không, hóa ra CHÚA đối xử với người tốt và người xấu như nhau sao? CHÚA là thẩm phán của cả trái đất. Chắc hẳn Ngài sẽ làm điều công bình chứ?”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

26Khua Yang lač, “Tơdah kâo ƀuh hlăm ƀuôn Sôdôm êma pluh čô kpă ênô, kâo srăng pap brei kơ jih ƀuôn kyua diñu.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Đức Giê-hô-va phán rằng: Nếu ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công bình, vì tình thương bấy nhiêu người đó ta sẽ tha hết cả thành.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Đức Giê-hô-va đáp: “Nếu Ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công chính, Ta sẽ vì những người đó mà tha thứ cả thành.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26 CHÚA phán, “Nếu Ta tìm thấy trong Thành Sô-đôm năm mươi người ngay lành, thì vì cớ năm mươi người ấy, Ta sẽ tha cho cả thành.”

Bản Dịch Mới (NVB)

26CHÚA đáp: “Nếu Ta tìm thấy năm mươi người công chính trong thành Sô-đôm thì vì cớ họ Ta sẽ dung thứ cả thành.”

Bản Phổ Thông (BPT)

26CHÚA phán, “Nếu ta tìm được năm mươi người tốt trong thành Xô-đôm, ta sẽ không tiêu diệt thành vì năm mươi người ấy.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

27Y-Abraham lŏ lač, “Nĕ anei, kâo, pô jing knŏng ƀruih lăn leh anăn hbâo, jhŏng blŭ kơ Khua Yang.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Áp-ra-ham lại thưa rằng: Mặc dầu tôi đây vốn là tro bụi, song tôi cũng dám cả gan thưa lại cùng Chúa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Áp-ra-ham thưa tiếp: “Dù con vốn là thân tro bụi, cũng xin đánh bạo mà thưa với Chúa:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27 Áp-ra-ham thưa, “Dẫu biết con đây chỉ là tro bụi, con cũng xin cả gan thưa với Chúa:

Bản Dịch Mới (NVB)

27Áp-ra-ham tiếp lời: “Thưa Chúa, con xin đánh bạo thưa với Chúa, dù con chỉ là tro bụi.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Áp-ra-ham tiếp, “Dù con đây là tro bụi cũng xin bạo gan thưa cùng CHÚA.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

28Bi tơdah kƀah êma čô hlăm êma pluh čô kpă ênô anăn? Kyua kƀah êma čô anăn ih srăng bi rai mơ̆ jih ƀuôn?” Leh anăn Khua Yang lač, “Kâo amâo srăng bi rai ƀuôn ôh tơdah kâo ƀuh tinăn pă pluh êma čô kpă ênô.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Hoặc trong năm mươi người công bình rủi thiếu hết năm; vì cớ năm người thiếu Chúa sẽ diệt hết cả thành chăng? Ngài trả lời rằng: Nếu ta tìm được có bốn mươi lăm người, ta chẳng diệt thành đâu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Nếu nhỡ trong năm mươi người công chính thiếu năm người thì sao? Vì thiếu năm người mà Chúa sẽ tiêu diệt cả thành chăng?” Ngài đáp: “Nếu Ta tìm được trong đó bốn mươi lăm người thì Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28 Giả như trong số năm mươi người ấy lỡ thiếu mất năm người, chẳng lẽ Ngài cũng sẽ tiêu diệt thành ấy, vì đã thiếu mất năm người sao?”Ngài đáp, “Ta sẽ không tiêu diệt thành ấy, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người trong đó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

28Nhỡ thiếu năm người công chính trong số năm mươi người công chính đó, Chúa có tiêu diệt thành không?” Chúa đáp: “Nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người công chính, Ta sẽ không tiêu diệt cả thành!”

Bản Phổ Thông (BPT)

28Giả sử chỉ có bốn mươi lăm người tốt trong thành thì sao? Chả lẽ thiếu năm người mà CHÚA cũng tiêu diệt cả thành sao?”CHÚA bảo, “Nếu ta tìm được bốn mươi lăm người tốt ở đó, ta cũng sẽ không tiêu diệt thành.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

29Gơ̆ lŏ lač kơ Ñu sa bliư̆, “Bi tơdah srăng mâo pă pluh čô tinăn?” Leh anăn Khua Yang lač, “Kâo amâo srăng ngă ôh, kyua phung pă pluh čô anăn.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Áp-ra-ham cứ thưa rằng: Ngộ trong thành chỉ có bốn mươi người công bình, thì sẽ ra sao? Ngài phán rằng: Ta sẽ chẳng diệt đâu, vì tình thương bốn mươi người nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29Áp-ra-ham lại thưa: “Giả sử trong thành chỉ tìm thấy bốn mươi người công chính thì sao?” Ngài đáp: “Vì bốn mươi người đó Ta sẽ không diệt đâu.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29 Ông lại thưa với Ngài nữa, “Giả như chỉ tìm được bốn mươi người thì sao?” Ngài đáp, “Vì cớ bốn mươi người ấy, Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

Bản Dịch Mới (NVB)

29Áp-ra-ham lại nói với Chúa: “Thưa Chúa, nếu chỉ có bốn mươi người công chính thì sao?” Chúa đáp: “Vì cớ bốn mươi người đó, Ta sẽ không tiêu diệt họ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

29Áp-ra-ham lại hỏi, “Nếu giả như chỉ có bốn mươi người tốt ở đó, CHÚA cũng tiêu diệt thành sao?”CHÚA bảo, “Nếu tìm được bốn mươi người, ta sẽ không tiêu diệt thành đó.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

30Gơ̆ lač, “Ơ, đăm brei Khua Yang ăl, leh anăn kâo srăng blŭ. Bi tơdah srăng mâo tlâo pluh čô tinăn?” Khua Yang lač, “Kâo amâo srăng ngă ôh tơdah kâo ƀuh tlâo pluh čô tinăn.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30Áp-ra-ham tiếp: Tôi xin Chúa đừng giận, thì tôi sẽ thưa: Ngộ trong đó chỉ có ba mươi người, thì sẽ ra sao? Ngài phán: Nếu ta tìm trong đó có ba mươi người, thì ta chẳng diệt đâu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30Rồi Áp-ra-ham lại nói: “Xin Chúa đừng giận, cho con được thưa tiếp: Giả sử trong thành chỉ có ba mươi người thì sao?” Ngài đáp: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, thì Ta sẽ không diệt thành đâu.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30 Ông lại thưa, “Ôi, xin Chúa đừng giận con nếu con nói tiếp: Giả như chỉ tìm được ba mươi người thì sao?”Ngài đáp, “Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu, nếu Ta tìm được ba mươi người trong đó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

30Rồi ông nói: “Xin Chúa đừng giận, cho con được thưa: ‘Nếu trong thành có ba mươi người công chính thì sao?’ ” Chúa trả lời: “Ta sẽ chẳng tiêu diệt nếu Ta tìm được ba mươi người công chính.”

Bản Phổ Thông (BPT)

30Áp-ra-ham thưa tiếp, “Xin CHÚA đừng nổi giận với con, cho con hỏi câu nầy. Nếu Ngài chỉ tìm được có ba mươi người tốt trong thành đó thì Ngài có tiêu diệt thành không?”CHÚA bảo, “Nếu tìm được ba mươi người tốt ở đó, ta sẽ không tiêu diệt thành.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

31Gơ̆ lač, “Nĕ anei, kâo lŏ jhŏng blŭ kơ Khua Yang. Bi tơdah srăng mâo dua pluh čô tinăn?” Khua Yang lač, “Kâo amâo srăng bi rai ƀuôn ôh kyua phung dua pluh čô anăn.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Áp-ra-ham thưa rằng: Tôi đây cũng cả gan thưa cùng Chúa: Nếu chỉ có hai mươi người, thì lại làm sao? Ngài rằng: Vì tình thương hai mươi người đó, ta sẽ chẳng diệt thành đâu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31Áp-ra-ham thưa: “Con xin đánh bạo thưa với Chúa: Nếu chỉ có hai mươi người thì sao?” Ngài đáp: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31 Ông nói, “Xin cho con dám cả gan thưa với Chúa thêm: Giả như chỉ tìm được hai mươi người thì sao?”Ngài đáp, “Vì cớ hai mươi người ấy, Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

Bản Dịch Mới (NVB)

31Áp-ra-ham nói: “Con lại đánh bạo xin thưa với Chúa: Nếu chỉ có hai mươi người công chính thì sao?” Chúa đáp: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ chẳng tiêu diệt thành.”

Bản Phổ Thông (BPT)

31Áp-ra-ham hỏi thêm, “Con xin bạo gan thưa cùng CHÚA. Giả sử như chỉ có hai mươi người tốt trong thành thì sao?”Ngài đáp, “Nếu tìm được hai mươi người tốt ở đó, ta sẽ không tiêu diệt thành.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

32Gơ̆ lač, “Ơ, đăm brei Khua Yang ăl ôh, leh anăn kâo srăng lŏ blŭ knŏng sa bliư̆. Bi tơdah srăng mâo pluh čô tinăn?” Ñu lač, “Kâo amâo srăng bi rai ƀuôn ôh kyua phung pluh čô anăn.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

32Áp-ra-ham lại thưa: Xin Chúa đừng giận, để cho tôi thưa chỉ một lần nầy nữa: Còn ngộ chỉ có mười người, thì nghĩ làm sao? Ngài phán rằng: Ta cũng sẽ chẳng diệt thành đâu, vì tình thương mười người đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

32Áp-ra-ham lại thưa: “Xin Chúa đừng giận, cho con thưa chỉ một lần nầy nữa thôi: Nếu trong đó chỉ có mười người thì sao?” Ngài đáp: “Vì mười người đó Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

32 Bấy giờ ông nói, “Ôi xin Chúa đừng giận con, xin cho con nói chỉ một lần nầy nữa thôi: Giả như chỉ tìm thấy mười người thì sao?”Ngài đáp, “Vì cớ mười người ấy, Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”

Bản Dịch Mới (NVB)

32Áp-ra-ham lại thưa: “Xin Chúa đừng giận, con chỉ xin thưa một lời nữa: Nếu trong đó có mười người công chính thì sao?” Chúa đáp: “Vì cớ mười người đó, Ta cũng chẳng tiêu diệt nó!”

Bản Phổ Thông (BPT)

32Áp-ra-ham hỏi tiếp, “Xin CHÚA đừng nổi giận cùng con, xin cho phép con hỏi câu chót. Nếu chỉ có mười người thì sao?”CHÚA đáp, “Nếu tìm được mười người, ta sẽ không tiêu diệt thành đó.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

33Khua Yang đuĕ nao tơdah leh ruê̆ blŭ hŏng Y-Abraham, leh anăn Y-Abraham wĭt kơ anôk gơ̆.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

33Khi Đức Giê-hô-va phán xong cùng Áp-ra-ham, thì Ngài ngự đi; còn Áp-ra-ham trở về trại mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

33Khi phán với Áp-ra-ham xong, Đức Giê-hô-va ra đi, còn Áp-ra-ham trở về trại mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

33 Sau khi nói chuyện với Áp-ra-ham xong, CHÚA lên đường; còn Áp-ra-ham trở về chỗ ở của ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

33Xong câu chuyện với Áp-ra-ham CHÚA ra đi, Áp-ra-ham quay về trại.

Bản Phổ Thông (BPT)

33Sau khi CHÚA nói chuyện với Áp-ra-ham xong thì Ngài ra đi, còn Áp-ra-ham trở về nhà mình.