25

Năm sa-bát

1 Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se tại trên núi Si-na-i rằng: 2 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi đã vào xứ ta sẽ ban cho rồi, thì đất phải nghỉ, giữ một lễ sa-bát cho Đức Giê-hô-va. 3 Trong sáu năm, ngươi sẽ gieo ruộng và hớt nho mình, cùng thâu hoạch thổ sản. 4 Nhưng năm thứ bảy sẽ là năm sa-bát, để cho đất nghỉ, tức là một năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va; ngươi chẳng nên gieo ruộng mình hay là hớt nho mình; 5 chẳng nên gặt lại những chi đã tự mọc lên sau khi mùa màng, và đừng hái nho của vườn nho không hớt sửa: ấy sẽ là một năm cho đất nghỉ. 6 Phàm vật gì mà đất sanh sản trong năm sa-bát: sẽ dùng làm đồ ăn cho ngươi, cho tôi trai tớ gái ngươi, cho kẻ làm thuê của ngươi, và cho kẻ ngoại bang kiều ngụ với ngươi; 7 cùng luôn cho lục súc và thú vật ở trong xứ ngươi nữa; hết thảy thổ sản dùng làm đồ ăn vậy.

Năm hân hỉ

8 Ngươi cũng hãy tính bảy tuần năm, tức bảy lần bảy năm; thì giờ của bảy tuần năm nầy sẽ là bốn mươi chín năm; 9 rồi đến ngày mồng mười tháng bảy, tức là ngày chuộc tội, các ngươi phải thổi kèn vang trong khắp xứ. 10 Các ngươi phải làm cho năm thứ năm mươi nên thánh, và rao truyền sự tự do cho hết thảy dân trong xứ. Ấy sẽ là năm hân hỉ cho các ngươi; ai nấy đều được nhận lại cơ nghiệp mình, và ai nấy đều trở về gia quyến mình. 11 Năm thứ năm mươi nầy là một năm hân hỉ cho các ngươi, không nên gieo, không nên gặt vật chi đất tự sanh sản, và cũng chẳng nên hái nho không có hớt sửa, 12 vì là một năm hân hỉ, sẽ làm thánh cho các ngươi; phải ăn những thổ sản. 13 Trong năm hân hỉ nầy, các sản nghiệp đều sẽ trở về nguyên chủ.

Về việc bán và chuộc các sản nghiệp

14 Nếu các ngươi bán hay là mua vật chi với kẻ lân cận mình, thì chớ lận anh em mình. 15 Ngươi sẽ cứ lấy số năm từ sau năm hân hỉ mà mua với kẻ lân cận mình; còn người, cứ lấy theo số năm có hoa lợi mà bán. 16 Tùy theo số năm sau năm hân hỉ, ngươi sẽ bù thêm giá; tùy theo số năm ít, ngươi sẽ giảm bớt giá; vì theo số mùa gặt mà người bán cho ngươi. 17 Chớ ai trong vòng các ngươi làm lận kẻ lân cận mình; nhưng hãy kính sợ Đức Chúa Trời, vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.
18 Các ngươi khá làm theo mạng lịnh ta, gìn giữ luật pháp ta và noi theo, như vậy sẽ được ăn ở bình yên trong xứ. 19 Đất sẽ sanh sản hoa lợi cho các ngươi, các ngươi sẽ ăn no và được ở bình yên trong xứ. 20 Ví các ngươi nói rằng: Nếu chúng tôi chẳng gieo, chẳng gặt mùa màng, thì trong năm thứ bảy sẽ lấy chi mà ăn? 21 Năm thứ sáu, ta sẽ giáng phước cho các ngươi, và năm ấy sẽ trúng mùa bù ba năm. 22 Năm thứ tám, các ngươi sẽ gieo và ăn hoa lợi của mùa màng cũ cho đến mùa màng mới của năm thứ chín.
23 Đất không được đoạn mãi; vì đất thuộc về ta, các ngươi ở cùng ta như kẻ khách ngoại bang và kẻ kiều ngụ. 24 Trong khắp xứ mà các ngươi sẽ được làm sản nghiệp, hãy cho phép chuộc đất lại. 25 Nếu anh em ngươi trở nên nghèo, và bán một phần sản nghiệp mình, thì người bà con gần có quyền chuộc lại, phải đến chuộc phần đất anh em người đã bán. 26 Nếu người nào không có ai được quyền chuộc lại, nhưng tự lo cho có chi chuộc lại được, 27 thì phải tính từ năm đã bán bồi số trội cho chủ mua, rồi người sẽ được nhận sản nghiệp mình lại. 28 Nếu nguyên chủ không tìm đủ giá đặng trả cho, đất bán sẽ thuộc về người chủ mua cho đến năm hân hỉ; đoạn đất sẽ ra khỏi tay chủ mua và về nguyên chủ.
29 Nếu người nào bán một cái nhà ở trong thành có vách bọc, thì có được phép chuộc lại cho đến giáp một năm sau khi bán; phép chuộc lại của người chỉ trong một năm trọn vậy. 30 Còn nếu không chuộc lại trước khi giáp hạn một năm trọn, thì nhà ở trong thành có vách bọc đó sẽ về chủ mua và dòng dõi người mãi mãi; đến năm hân hỉ nhà đó không ra khỏi tay họ. 31 Nhưng các nhà ở nơi hương thôn không có vách bọc lấy, thì kể như ruộng đất; chủ bán có phép chuộc lại; đến năm hân hỉ nhà sẽ về nguyên chủ. 32 Còn về các thành của người Lê-vi, và về các nhà của họ ở trong thành đó, thì người Lê-vi luôn luôn có quyền chuộc lại. 33 Ai mua của người Lê-vi một cái nhà tại trong thành người Lê-vi, đến năm hân hỉ nhà đó sẽ về nguyên chủ; vì các nhà cửa tại trong những thành người Lê-vi là sản nghiệp của họ giữa dân Y-sơ-ra-ên. 34 Những ruộng đất thuộc về thành người Lê-vi không phép bán, vì là sản nghiệp đời đời của họ.

Về người nghèo khổ

35 Nếu anh em ở gần ngươi trở nên nghèo khổ, tài sản người lần lần tiêu mòn, thì hãy cứu giúp người, mặc dầu là kẻ khách kiều ngụ, hầu cho người cứ ở cùng ngươi. 36 Chớ ăn lời, cũng đừng lấy lợi người; nhưng hãy kính sợ Đức Chúa Trời mình, thì anh em ngươi sẽ ở cùng ngươi. 37 Chớ cho người vay bạc ăn lời và đừng cho mượn lương thực đặng lấy lời. 38 Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời các ngươi, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, đặng ban cho các ngươi xứ Ca-na-an, và làm Đức Chúa Trời của các ngươi.

Về tôi mọi

39 Nếu anh em ở gần ngươi trở nên nghèo khổ, đem bán mình cho ngươi, chớ nên bắt người làm việc như tôi mọi; 40 người ở nhà ngươi như kẻ làm thuê, người ở đậu, sẽ giúp việc ngươi cho đến năm hân hỉ: 41 đoạn người và con cái người thôi ở nhà ngươi, trở về nhà và nhận lấy sản nghiệp của tổ phụ mình. 42 Vì ấy là những tôi tớ ta mà ta đã đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô; không nên bán họ như người ta bán tôi mọi. 43 Ngươi chớ lấn lướt mà khắc bạc họ, nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. 44 Còn tôi trai tớ gái thuộc về ngươi, thì sẽ do các dân chung quanh mình mà ra; ấy do nơi những dân đó mà các ngươi mua tôi trai tớ gái. 45 Các ngươi cũng có phép mua tôi mọi trong bọn con cái của kẻ khách kiều ngụ nơi mình và của họ hàng chúng nó sanh ra trong xứ các ngươi; vậy họ sẽ làm sản nghiệp của các ngươi. 46 Các ngươi để họ lại làm cơ nghiệp cho con cháu mình; hằng giữ họ như kẻ tôi mọi. Nhưng về phần anh em các ngươi, là dân Y-sơ-ra-ên, thì không ai nên lấn lướt mà khắc bạc anh em mình. 47 Khi một khách ngoại bang hay là một người kiều ngụ nơi ngươi trở nên giàu, còn anh em ngươi ở cùng họ lại nên nghèo, đem bán mình cho kẻ khách ngoại bang kiều ngụ nơi ngươi, hay là cho một người nào trong nhà kẻ khách ngoại bang ấy, 48 sau khi đã đem bán mình rồi, thì sẽ có phép chuộc lại: một anh em người được chuộc người lại, 49 hoặc bác chú, hoặc con của bác chú; hoặc một người thân thích cũng được chuộc người lại; hay là nếu người có thế, thì chính người phải chuộc mình lấy. 50 Người sẽ tính cùng chủ mua từ năm nào mình đã bán mình cho đến năm hân hỉ; và giá bán sẽ tính theo số năm nhiều, hay ít: tức là tính như ngày công của người làm thuê vậy. 51 Nếu còn nhiều năm, thì hãy cứ số năm nầy, cân phân theo giá đã bán mình mà chuộc lại; 52 nếu đến năm hân hỉ còn ít năm, thì hãy tính với chủ mua cứ theo số năm nầy mà thối hồi số mua mình lại. 53 Họ đối cùng chủ như một người làm thuê năm, chủ không nên lấn lướt mà khắc bạc người trước mặt ngươi. 54 Nếu người không được chuộc lại bởi các thế ấy, đến năm hân hỉ người và các con trai người sẽ được ra tự do. 55 Vì dân Y-sơ-ra-ên là tôi tớ ta, tức các tôi tớ ta đã đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.

25

Thŭn Tal Tơjuh (Thŭn Saƀat)

(Juăt 15:1-11)

1Yahweh pơhiăp hăng Môseh ƀơi čư̆ Sinai, 2“Pơhiăp bĕ hăng ƀing Israel hăng laĭ kơ ƀing gơñu, ‘Tơdang ƀing gih mŭt amăng anih lŏn Kâo brơi kơ ƀing gih, ƀing gih khŏm pơpŭ bĕ kơ Yahweh hăng brơi anih lŏn anŭn pơdơi tui tơlơi juăt pơkă laih kơ hrơi saƀat. 3Tơjŭ pla bĕ amăng năm thŭn ƀơi đang hơma gih laih anŭn amăng năm thŭn răk wai bĕ khul đang boh kơƀâo gih hăng pơƀut glaĭ bĕ khul boh čroh mơ̆ng đang boh pơdai mơ̆ng hơma. 4Samơ̆ amăng thŭn tal tơjuh, anih lŏn khŏm hơmâo sa thŭn saƀat kơ tơlơi pơdơi, jing thŭn saƀat kơ Yahweh yơh. Anăm tơjŭ pla amăng khul đang hơma gih kŏn dưi răk wai lơi khul đang boh kơƀâo gih. 5Anăm yuă ôh khul pơdai čă đĭ ñu pô ƀôdah pĕ khul boh kơƀâo mơ̆ng phŭn hrĕ boh kơƀâo ƀing gih ƀu yuă pơkra anŭn. Anih lŏn khŏm hơmâo sa thŭn kơ tơlơi pơdơi. 6Hơget gơnam čă rai amăng thŭn saƀat či jing hĭ gơnam ƀơ̆ng kơ ƀing gih, anŭn jing kơ gih pô, kơ ƀing ding kơna đah rơkơi gih, kơ ƀing ding kơna đah kơmơi gih, kơ ƀing mă bruă apăh laih anŭn kơ mơnuih hơdip jăng jai hrŏm hăng gih, 7ăt kơ tơpul hlô rong gih wơ̆t kơ khul hlô mơnơ̆ng glai mơ̆n. Hơget añăm tăm tơnah pơtơbiă rai či dưi ƀơ̆ng yơh.

Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ (Thŭn Jubili)

8“ ‘Yap bĕ tơjuh thŭn saƀat amăng khul thŭn, tơjuh wơ̆t tơjuh thŭn, tui anŭn tơjuh thŭn saƀat amăng khul thŭn jing abih bang pă̱pluh-duapăn thŭn. 9Giŏng anŭn, brơi ayŭp bĕ tơdiăp amăng djŏp anih ƀơi hrơi tal pluh amăng blan tal tơjuh, ƀơi Hrơi Pơkra Tơlơi Pap Brơi; ƀing gih ayŭp bĕ tơdiăp amăng djŏp anih lŏn gih. 10Pơrơgoh bĕ thŭn tal rơmapluh hăng pơhaih bĕ tơlơi rơngai amăng djŏp anih lŏn kơ abih bang mơnuih dŏ amăng čar gih. Anŭn či jing sa tơlơi rŭ̱ pơdơ̆ng glaĭ kơ ƀing gih yơh; rĭm čô amăng ƀing gih či mă glaĭ kŏng ngăn kơ ñu pô, jing kŏng ngăn ñu hơmâo sĭ hĭ laih, laih anŭn hlơi pô sĭ hĭ ñu pô jing hlŭn, ñu či wơ̆t glaĭ rơngai pơ sang anŏ ñu pô yơh. 11Thŭn tal rơmapluh yơh či jing sa tơlơi rŭ̱ pơdơ̆ng glaĭ kơ ƀing gih; anăm tơjŭ pla ôh kŏn pĕ hơpuă lơi hơget gơnam tăm čă đĭ mă pô ƀôdah pĕ mơ̆ng khul phŭn hrĕ boh kơƀâo ƀu răk wai ôh. 12Yuakơ anŭn jing sa tơlơi rŭ̱ pơdơ̆ng glaĭ laih anŭn či jing hĭ rơgoh hiam kơ ƀing gih yơh; ƀơ̆ng bĕ kơnơ̆ng hơget gơnam mă rai tơpă mơ̆ng khul đang hơma gih.
13“ ‘Amăng Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ anai, rĭm čô khŏm mă glaĭ kŏng ngăn jing gơnam ñu hơmâo sĭ laih kơ pô blơi gơnam anŭn.
14“ ‘Tơdah ƀing gih sĭ hĭ lŏn kơ pô re̱ng gah gih ƀôdah blơi mă mơ̆ng gơ̆, anăm yua mă tơdruă ôh. 15Ƀing gih či blơi mơ̆ng pô re̱ng gah gih yap ƀơi khul thŭn yuakơ Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ yơh. Laih anŭn ñu či sĭ kơ ƀing gih ăt yap ƀơi khul thŭn anih lŏn či dưi pơtơbiă rai khul boh čroh mơ̆ng đang boh pơdai mơ̆ng hơma mơ̆n. 16Tơdah dŏ hơmâo lu thŭn, ƀing gih či yap đĭ nua ñu, laih anŭn tơdah khul thŭn kơnơ̆ng dŏ ƀiă, ƀing gih ăt či yap trŭn mơ̆ng nua ñu mơ̆n, yuakơ ñu sĭ kơ ƀing gih jing tui hăng khul mrô bơyan pĕ hơpuă. 17Anăm yua mă tơdruă ôh; samơ̆ huĭ pơpŭ bĕ kơ Ơi Adai gih. Kâo yơh jing Yahweh Ơi Adai gih.
18“ ‘Ngă tui bĕ khul tơlơi phiăn Kâo laih anŭn răng pơñen tui gưt bĕ khul tơlơi juăt Kâo, tui anŭn ƀing gih či dưi hơdip rơnŭk rơnua amăng anih lŏn anŭn. 19Tui anŭn, anih lŏn či pơtơbiă rai boh čroh boh pơdai, laih anŭn ƀing gih či ƀơ̆ng trơi hăng hơdip rơnŭk rơnua yơh. 20Năng ai ƀing gih či tơña, “Hơget gơnam ƀing ta či ƀơ̆ng amăng thŭn tal tơjuh tơdah ƀing ta ƀu tơjŭ pla ƀôdah ƀu hơpuă ôh gơnam tăm ta lĕ?” 21Kâo či pha brơi kơ ƀing gih tơlơi mơyŭn hiam amăng thŭn tal năm, tui anŭn kơnơ̆ng amăng thŭn anai, anih lŏn či pơtơbiă rai rơbeh djŏp kơ klâo thŭn yơh. 22Tơdang ƀing gih pla amăng thŭn tal sapăn, ƀing gih či ƀơ̆ng huă mơ̆ng gơnam tăm hơđăp laih anŭn ăt či ƀơ̆ng huă mơ̆ng anŭn truh kơ bơyan hơpuă amăng thŭn tal duapăn truh mơ̆n.

Tơlơi Rŭ̱ Pơdơ̆ng Đĭ Kŏng Ngăn

23“ ‘Anih lŏn ƀu dưi sĭ hĭ hlŏng lar ôh, yuakơ anih lŏn anai jing gơnam Kâo, laih anŭn ƀing gih kơnơ̆ng hrup hăng ƀing tuai jing ƀing Kâo brơi dŏ jăng jai kiăng kơ yua đôč. 24Amăng abih anih lŏn ƀing gih yap jing kŏng ngăn anŭn, ƀing gih khŏm pŏk brơi bĕ hơdră kơ tơlơi song mă glaĭ anih lŏn anŭn.
25“ ‘Tơdah sa čô amăng ƀing ayŏng adơi Israel gih jing pô ƀun rin sĭ hĭ kŏng ngăn ñu kơ arăng, pô kơnung djuai jĕ hloh yơh či rai song mă gơnam pô rin anŭn hơmâo sĭ laih. 26Tơdah sa čô mơnuih ƀu hơmâo hlơi pô ôh kiăng kơ song glaĭ brơi kơ gơ̆, samơ̆ ñu pô yơh či hơmâo tơlơi đĭ kơyar kiăng kơ song glaĭ, 27ñu či yap nua mơ̆ng khul thŭn ñu hơmâo sĭ laih hăng kla glaĭ kơ pô hơmâo blơi laih khul thŭn gơ̆ aka yua ôh anŭn, tui anŭn ñu dưi hơmâo glaĭ kŏng ngăn ñu pô yơh. 28Samơ̆ tơdah ñu ƀu hơmâo gơnam kiăng kơ kla glaĭ kơ pô blơi anŭn ôh, gơnam ñu hơmâo sĭ laih či dŏ amăng kŏng ngăn pô blơi anŭn hlŏng truh kơ Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ yơh. Kŏng ngăn anŭn či dưi brơi glaĭ amăng Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ, tui anŭn ñu dưi hơmâo glaĭ kŏng ngăn ñu pô yơh.
29“ ‘Tơdah sa čô sĭ hĭ laih sa boh sang amăng gah lăm pơnăng plei, ñu hơmâo tơlơi dưi song glaĭ tơdơi kơ hrơi ñu sĭ anŭn amăng hlo̱m sa thŭn. Tơdang amăng thŭn anŭn yơh ñu dưi song glaĭ sang anŭn. 30Tơdah ñu ƀu song glaĭ ôh sang anŭn hlâo kơ sa thŭn hlo̱m rơgao hĭ, sang amăng pơnăng plei anŭn či lŏm kơ pô blơi laih anŭn kơ kơnung djuai pô anŭn hlŏng lar yơh. Ñu ƀu či dưi brơi glaĭ ôh amăng Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ. 31Samơ̆ khul sang amăng khul plei ƀu hơmâo ôh pơnăng plei jum dar, ƀing gih khŏm yap hrup hăng khul đang hơma yơh. Pô sang či dưi song glaĭ yơh ƀơi mông pă tŭ mơ̆n; samơ̆ tơdah ñu ƀu dưi ôh, pô blơi khŏm brơi glaĭ kơ pô ñu amăng Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ yơh.
32“ ‘Kơđai glaĭ, ƀing Lêwi dưi song glaĭ nanao khul pưk sang gơñu amăng khul plei ƀing Lêwi jing anih lŏm kơ ƀing gơñu. 33Tui anŭn, khul kŏng ngăn lŏm kơ ƀing Lêwi či dưi song glaĭ, anŭn jing sa boh sang sĭ hĭ laih amăng plei pă ƀing gơñu hơmâo yơh; samơ̆ tơdah ƀing gơñu ƀu dưi song glaĭ ôh, pô blơi khŏm brơi glaĭ amăng Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ yuakơ khul pưk sang amăng khul plei ƀing Lêwi jing kŏng ngăn gơñu amăng ƀing Israel yơh. 34Samơ̆ anih đang rơ̆k lŏm kơ khul plei gơñu, ƀing gơñu ƀu dưi sĭ hĭ ôh; anŭn jing kŏng ngăn gơñu hlŏng lar yơh.

Khul Tơlơi Brơi Čan Kơ Ƀing Ƀun Rin

35“ ‘Tơdah sa čô pô ayŏng adơi gih jing pô ƀun rin laih anŭn ƀu dưi čem rong ñu pô ôh amăng plei pla gih, djru bĕ gơ̆ hrup hăng ƀing gih djru kơ sa čô tuai ƀôdah kơ sa čô dŏ jưh jăng jai, tui anŭn yơh gơ̆ dưi hơdip tŏ tui hrŏm hăng ƀing gih. 36Anăm mă tŭ kơmlai hơget ôh mơ̆ng gơ̆, samơ̆ huĭ pơpŭ bĕ kơ Ơi Adai gih, tui anŭn pô ayŏng adơi gih dưi tŏ tui hơdip hrŏm hăng ƀing gih yơh. 37Tơdah ƀing gih djru kơ pô ayŏng adơi gih, anăm brơi ôh gơ̆ čan prăk hăng tơlơi mă kơmlai ƀôdah sĭ gơnam ƀơ̆ng kơ gơ̆ amăng tơlơi tŭ yua. 38Kâo yơh jing Yahweh Ơi Adai gih, jing Pô ba ƀing gih tơbiă mơ̆ng čar Êjip kiăng kơ brơi anih lŏn Kanaan laih anŭn kiăng kơ jing Ơi Adai gih.

Khul Tơlơi Pơrơngai Ƀing Ding Kơna

39“ ‘Tơdah sa čô amăng ƀing ayŏng adơi Israel gih jing hĭ ƀun rin tŏng krah ƀing gih hăng sĭ hĭ ñu pô kơ ƀing gih, anăm brơi gơ̆ mă bruă hrup hăng sa čô hlŭn ôh. 40Ƀing gih khŏm lăng kơ gơ̆ hrup hăng pô mă bruă apăh ƀôdah hrup hăng pô dŏ jưh hrŏm hăng ƀing gih; ñu či mă bruă kơ ƀing gih kơnơ̆ng tơl Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ. 41Giŏng anŭn, ñu laih anŭn ƀing ană bă ñu či rơngai yơh, laih anŭn ñu či wơ̆t glaĭ pơ kơnung djuai ñu pô laih anŭn pơ kŏng ngăn ƀing ơi adon ñu hlâo adih yơh. 42Ƀing Israel jing ƀing ding kơna Kâo, jing ƀing Kâo hơmâo ba tơbiă laih mơ̆ng čar Êjip, tui anŭn ƀing gih ƀu dưi sĭ hĭ ƀing gơñu hrup hăng ƀing hlŭn ôh. 43Anăm kơtư̆ juă ƀing gơ̆ ôh, samơ̆ huĭ pơpŭ bĕ kơ Ơi Adai gih.
44“ ‘Ƀing hlŭn đah rơkơi đah kơmơi gih khŏm jing ƀing rai mơ̆ng ƀing kơnung djuai pơkŏn jum dar ƀing gih; mơ̆ng ƀing gơñu yơh ƀing gih dưi blơi ƀing hlŭn. 45Ƀing gih ăt dưi blơi mă ƀing dŏ jưh jăng jai hơdip hrŏm hăng ƀing gih laih anŭn ƀing mơnuih amăng ƀing kơnung djuai gơñu hơmâo tơkeng rai amăng lŏn čar gih, laih anŭn ƀing gơñu či jing muk dram kơ ƀing gih yơh. 46Ƀing gih dưi brơi ƀing gơñu kơ ƀing ană bă gih hrup hăng kŏng ngăn hăng dưi pơjing ƀing gơñu jing hlŭn amăng abih tơlơi hơdip gơñu, samơ̆ ƀing gih ƀu dưi kơtư̆ juă ƀing ayŏng adơi Israel gih ôh.
47“ ‘Tơdah sa čô tuai ƀôdah sa čô dŏ jưh jăng jai hrŏm hăng ƀing gih jing hĭ pơdrŏng laih anŭn sa čô amăng ƀing ayŏng adơi gih jing ƀun rin hăng sĭ hĭ ñu pô kơ tuai anŭn ƀôdah kơ sa čô amăng kơnung djuai tuai anŭn, 48ñu ăt hơmâo tơlơi dưi song glaĭ mơ̆n tơdơi kơ ñu sĭ hĭ ñu pô laih. 49Sa čô met wa ñu, sa čô ayŏng adơi ñu ƀôdah sa čô amăng drah kơtăk kơnung djuai ñu yơh dưi song glaĭ ñu. Tơdah ñu dưi đĭ kơyar, ñu dưi song glaĭ ñu pô yơh. 50Ñu hăng pô blơi ñu či yap mơ̆ng thŭn ñu sĭ hĭ ñu pô truh kơ Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ. Nua kơ tơlơi rơngai ñu či tui hăng nua apăh kơ sa čô mơnuih mă bruă kơ abih khul thŭn anŭn yơh. 51Tơdah ăt dŏ lu thŭn dơ̆ng mơ̆n, ñu khŏm kla kơ tơlơi song glaĭ ñu anŭn tui hăng khul thŭn dŏ glaĭ hlŏng truh kơ Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ yơh. 52Tơdah kơnơ̆ng hơmâo ƀiă thŭn dŏ glaĭ truh pơ Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ, ñu ăt kla tui hăng thŭn anŭn mơ̆n. 53Pô ñu khŏm lăng kơ gơ̆ hrup hăng sa čô mă bruă apăh rĭm thŭn; ƀing gih khŏm kơsem lăng bĕ tơlơi anai, huĭdah pô ñu kơtư̆ juă hĭ gơ̆. 54Tơdah arăng ƀu song mă ñu amăng khul jơlan anai ôh, ñu laih anŭn ƀing ană bă ñu či dưi rơngai yơh amăng Thŭn Rŭ̱ Pơdơ̆ng Glaĭ, 55yuakơ ƀing Israel lŏm kơ Kâo hrup hăng ƀing ding kơna. Ƀing gơñu jing ƀing ding kơna Kâo, jing ƀing Kâo hơmâo ba tơbiă laih mơ̆ng čar Êjip. Kâo yơh jing Yahweh Ơi Adai gih.